THUẾ VÀ KINH TẾ SỐ

Tuổi Trẻ Cuối Tuần

TTCT - Các phân tích sâu về cơ hội và rào cản trong việc thu thuế từ các nguồn doanh thu khổng lồ trên không gian số của các chính phủ khác nhau, từ đông sang tây.

Kinh tế số: Thách thức với cơ quan thuế

LÊ THANH 6/3/2021 9:00 GMT+7
  • 245

TTCT - Hoạt động kinh tế số đang phát triển hơn bao giờ hết. Số tiền thuế thu được từ cá nhân, tổ chức trong nước kinh doanh trên nền tảng số tăng lên, nhưng với doanh thu hàng tỉ USD từ Việt Nam mà Google, Facebook, Amazon, Netflix… nhận được thì sao?

Tranh thủ giờ nghỉ trưa, nhiều chị nhân viên văn phòng đi siêu thị trên mạng để mua đồ cho bữa tối. Từ nắm hành lá, củ gừng, đến thực phẩm, trái cây… được đặt và thanh toán bằng điện thoại chỉ sau 2 phút. Việc hằng ngày nhận đơn hàng và thanh toán qua mạng giờ đã hết sức quen thuộc.

Dịch COVID-19 cũng là cú huých thúc đẩy hoạt động kinh tế số phát triển hơn bao giờ hết. Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, đến hết tháng 10-2020, số lượng giao dịch thanh toán qua điện thoại di động đạt hơn 918,8 triệu lượt, giá trị 9,6 triệu tỉ đồng, cùng tăng 125% so với cùng kỳ 2019; giao dịch thanh toán qua Internet đạt gần 374 triệu lượt, tăng 8,3% và giá trị đạt hơn 22,2 triệu tỉ đồng, tăng 25,5% so với cùng kỳ năm 2019.

Quy mô lĩnh vực thương mại điện tử ở Việt Nam năm 2020 là 11,8 tỉ USD, theo Cục Thương mại điện tử và kinh tế số (Bộ Công thương), chiếm 5,5% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước. Năm qua, Việt Nam là quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á có mức tăng trưởng thương mại điện tử 2 chữ số: 18%.

Ảnh: Quang Định

 

Quản lý phải nắm được 
dòng tiền

Thương mại điện tử ở Việt Nam hiện gần như đã ở mức độ các cửa hàng “gạch và bêtông” bán thứ gì thì trên mạng có thứ đó, và rất nhiều thứ trên mạng có, mà cửa hàng ngoài đường chưa chắc có. 

Dưới góc độ quản lý thuế, phó tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Đặng Ngọc Minh cho biết cơ quan thuế đã ghi nhận hiện tượng này và dự báo hoạt động kinh tế số sẽ phát triển bùng nổ trong những năm tới. Ngành thuế cũng nhận thức rằng mô hình kinh doanh truyền thống sau đại dịch chắc chắn sẽ có sự chuyển dịch. 

Một đặc thù của kinh tế số Việt Nam, theo Bộ Công thương, là dù thương mại điện tử rất phát triển, giao dịch thanh toán trực tuyến vẫn rất ít, đa phần thanh toán vẫn bằng tiền mặt, đặt ra vấn đề không dễ giải quyết cho cơ quan thuế. 

Ông Đặng Ngọc Minh thừa nhận quản lý nền kinh tế số nói chung và hoạt động kinh doanh trên nền tảng số nói riêng là một lĩnh vực rất mới. 

Để quản lý thuế với hoạt động kinh tế số, Quốc hội đã ban hành Luật quản lý thuế số 38. Trong đó, ông Minh nói ngành thuế đã đưa những quy định mới về quản lý kinh tế số, đặc biệt là với giao dịch xuyên biên giới có gắn trách nhiệm của các cơ quan liên quan như ngân hàng, tổ chức trung gian thanh toán…

“Không chỉ người kinh doanh mà cả ngân hàng, đơn vị trung gian thanh toán, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nền tảng [platform] phải có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thuế để trước hết tạo điều kiện cho kinh tế số phát triển thuận lợi. Đồng thời, các bên cũng cùng chia sẻ thông tin như ngân hàng phải cung cấp số tài khoản, mã số thuế của người nộp thuế cho cơ quan thuế để quản lý hoạt động kinh doanh số” - ông Minh nói.

Theo quy định, người nộp thuế có nghĩa vụ tự tính, tự khai và tự nộp thuế. Mọi trường hợp, nếu cá nhân cố tình trốn thuế thì một ngày nào đó, cơ quan thuế sẽ tìm ra. Nếu một cá nhân đã thanh toán, hồ sơ thanh toán vẫn lưu dấu vết thì với nghiệp vụ của mình, cơ quan thuế sẽ có biện pháp để truy vết và buộc người ta phải đóng thuế. Điều này là để đảm bảo công bằng với những người làm ăn chân chính, nộp thuế kịp thời và đầy đủ.

Về phía ngành thuế, ông Minh cho hay đã bố trí nhân lực quản lý hoạt động kinh tế số. Các đội thuế phường xã phải bố trí lực lượng cán bộ khảo sát các hệ thống kinh doanh online và phối hợp với quản lý thị trường để đề ra giải pháp quản lý. 

Hiện nay qua cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng, những giao dịch của nhà cung cấp đều được cơ quan thuế nắm số liệu và làm việc với các cá nhân có nguồn thanh toán của Google, Facebook…

Với nhóm này, Tổng cục Thuế ghi nhận trong 2 năm trở lại đây, số thuế thu từ thu nhập do hoạt động thương mại điện tử tăng mạnh, đạt khoảng 1.000 tỉ đồng/năm. Rõ ràng ý thức tuân thủ về thuế của người nộp thuế đang tăng lên. 

Đa phần người nộp thuế hiểu được nghĩa vụ của mình thì chủ động tìm hiểu và trao đổi với cơ quan thuế để kê khai và nộp thuế.

Ảnh: Quang Định

 

Thu thuế của các ông lớn vẫn chưa thuận

Trả lời chất vấn Quốc hội ở kỳ họp tháng 11-2019, Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Mạnh Hùng cho biết hiện Google, Amazon, Facebook và Apple phát sinh doanh thu tại Việt Nam hàng tỉ USD nhưng chưa đóng thuế. 

Bộ này, cùng Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước, đã yêu cầu các nền tảng xuyên biên giới này phải đóng thuế, tuân thủ luật pháp Việt Nam.

Về vấn đề này, ông Đặng Ngọc Minh cho biết Tổng cục Thuế đang lấy ý kiến góp ý dự thảo thông tư thực hiện nghị định 126 và Luật quản lý thuế. 

Trường hợp các đại gia này không có cơ sở kinh doanh ở Việt Nam, không đăng ký kê khai và nộp thuế cho doanh thu ở Việt Nam, thì ngân hàng thương mại sẽ chịu trách nhiệm nộp thuế thay trước khi chuyển tiền thanh toán cho họ. 

Ông Đặng Ngọc Minh nói ngành thuế đang làm việc với các nhà cung cấp nước ngoài về các nghĩa vụ mới, cũng như yêu cầu họ tuân thủ.

Đồng tình với việc sẽ thực hiện trách nhiệm nộp thuế thay cho Google, Facbook, Amazon… khi chuyển tiền thanh toán của cá nhân trong nước, nhưng nhiều ngân hàng thương mại đề nghị Bộ Tài chính cần quy định thuế suất thống nhất, chứ không phân biệt theo hoạt động kinh doanh.

Đại diện cho tiếng nói doanh nghiệp, bà Đỗ Khánh Ly - Trung tâm Liên minh Internet châu Á (AIC - hiệp hội ngành gồm các công ty công nghệ và Internet hàng đầu như Amazon, Facebook, Apple…) - khuyến cáo Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế cần thảo luận và nghiên cứu kỹ hơn quy định về quản lý thuế với các nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở kinh doanh ở Việt Nam, để khi ban hành, quy định không tạo gánh nặng cho doanh nghiệp.

Bà Ly cho rằng Tổng cục Thuế nên cân nhắc quy định đơn phương đánh thuế trên tổng doanh thu vào các doanh nghiệp nước ngoài, vì khối các nền kinh tế phát triển OECD đang hướng tới không sử dụng cách này và kế hoạch của họ là trong năm nay sẽ tìm được giải pháp toàn cầu về thuế với hoạt động kinh tế số, có thể làm mẫu cho các nước khác triển khai theo. 

Theo bà Ly, chỉ nên yêu cầu nhà cung cấp ở nước ngoài đăng ký và nộp thuế giá trị gia tăng, còn các quy định về thuế thu nhập doanh nghiệp khi áp dụng cần hòa hợp với khung thuế toàn cầu của G20 hay OECD mà Việt Nam là thành viên. Được biết khung thuế này dự kiến hoàn thành vào giữa năm 2021. ■

Ông Lưu Đức Huy - vụ trưởng Vụ Chính sách, Tổng cục Thuế: “Đảm bảo quyền đánh thuế của nước chủ nhà”

Quản lý thuế thương mại điện tử và kinh doanh dựa trên nền tảng số áp dụng với nhà cung cấp nước ngoài thì Tổng cục Thuế sẽ tham khảo quy định quốc tế cũng như học hỏi quy định các nước để áp dụng cho phù hợp. Tổng cục Thuế sẽ rà soát lại để tránh không thu trùng thuế. Nguyên tắc thu thuế đảm bảo đơn giản, dễ thực hiện, đồng thời đảm bảo đúng quy định Việt Nam cũng như quyền đánh thuế của nước chủ nhà.

Bà Virginia Foote, đại diện Hiệp hội Thương mại Hoa Kỳ tại Việt Nam (AmCham): “Các nghĩa vụ mới về thuế rất phức tạp”

Một mạng lưới rất phức tạp về các nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, khấu trừ thuế đối với nhà cung cấp nước ngoài hoạt động trên nền tảng số thể hiện qua dự thảo thông tư thuế đang được Bộ Tài chính lấy ý kiến.

Khái niệm hoạt động thương mại điện tử kinh doanh dựa trên nền tảng số quá rộng. Chúng tôi đã xem xét quy định mới về cơ sở thường trú - khái niệm này được nêu trong dự thảo thông tư nhưng chưa có trong một số luật Việt Nam về thuế, nhất là Luật quản lý thuế.

Liên quan đến trách nhiệm của nhà cung cấp nước ngoài với việc đăng ký kê khai và nộp thuế, rất mong Chính phủ cần phải làm rõ quy định hiện tại với thuế nhà thầu nước ngoài trong dự thảo thông tư tới đây, sao cho hai văn bản này hợp lý, có thể áp dụng một cách nhất quán.

Về thuế thu nhập doanh nghiệp, chúng tôi kiến nghị doanh nghiệp nước ngoài sẽ không phải đăng ký cũng như nộp thuế này ở Việt Nam khi họ đã được bảo hộ bởi hiệp định thuế mà Việt Nam tham gia ký kết.

Về việc kê khai và nộp thuế giá trị gia tăng và thu nhập doanh nghiệp, Việt Nam nên ban hành quy trình, mẫu biểu phù hợp để các nhà cung cấp nước ngoài hiểu rõ yêu cầu và trách nhiệm với họ. Cuối cùng, các doanh nghiệp nước ngoài rất mong quy định mới về quản lý thuế với kinh doanh thương mại điện tử không đi ngược lại với các chuẩn mực thuế quốc tế, các hiệp định thuế mà Việt Nam đã tham gia ký kết.

Bình luận
    Viết bình luận...

    Nhận diện rào cản thu thuế kinh tế số

    NAM MINH 6/3/2021 9:00 GMT+7
    • 245

    TTCT - Tổng cục Thuế đang lấy ý kiến rộng rãi cho dự thảo thông tư mới về chính sách quản lý thuế, trong đó việc chính thức thu thuế giao dịch trên các trang thương mại điện tử được cho vẫn còn một số trở ngại lớn cần thảo luận để đảm bảo một chính sách thuế hiệu quả và bình đẳng.

    Dự thảo “Thông tư hướng dẫn một số điều của Luật quản lý thuế và nghị định 126/2020/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật quản lý thuế” là đòi hỏi tất yếu của thời đại kinh tế số, nhưng về chi tiết đang gây không ít tranh luận.

    Mở rộng nguồn thu 

    Theo dự thảo, các doanh nghiệp thương mại điện tử phải kê khai thông tin người bán. Các website thương mại điện tử như Tiki, Shopee, Lazada, Sendo… và công ty cung cấp dịch vụ giao hàng có trách nhiệm cung cấp thông tin về người bán cho cơ quan thuế. 

    Nhiều DN đầu tư phòng studio công phu cho các chương trình livestream bán hàng qua mạng. Ảnh: ĐỨC THIỆN

     

    Với các cá nhân tham gia kinh doanh trên mạng xã hội như Facebook, cơ quan thuế địa phương sẽ thu thập thông tin từ trang của họ để xác định họ là ai để thu thuế. 

    Báo cáo của Cục Thương mại điện tử và kinh tế số (Bộ Công thương) cho biết tới 53% dân số Việt Nam đã tham gia mua bán trực tuyến trong một thị trường giá trị gần 12 tỉ USD trong năm 2020. 

    Kế hoạch Tổng thể phát triển quốc gia giai đoạn 2021-2025 dự báo đến năm 2025, 55% dân số sẽ tham gia mua sắm trực tuyến, với giá trị mua hàng hóa và dịch vụ trực tuyến dự kiến tăng 25% mỗi năm, đạt 35 tỉ USD, chiếm 10% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước.

    Trên các không gian kỹ thuật số khác, không khí cũng sôi động không kém. Tính đến cuối năm 2020, có khoảng 15.000 kênh YouTube bật nút kiếm tiền, trong đó khoảng 350 kênh có doanh thu lớn với từ 1 triệu người đăng ký theo dõi trở lên.

    Tuy nhiên, chỉ 30% trong số đó, tương đương khoảng 5.000 kênh, chịu sự quản lý từ các công ty mạng của YouTube tại Việt Nam có kê khai và nộp thuế đảm bảo đầy đủ.

    Còn nhiều rào cản 

    Tin tức về một số cá nhân và tổ chức bắt đầu nộp thuế từ kinh doanh số với những số tiền không nhỏ nay đã quen thuộc. Theo Cục Thuế Hà Nội, năm 2020 lượng thu thuế từ hoạt động thương mại điện tử (Google, Facebook và YouTube) tăng 492% so với năm 2019. Cá biệt có 3 cá nhân nộp thuế trên 7 tỉ đồng, trong đó người cao nhất 23 tỉ đồng. 

    Để so sánh, mới năm 2015, người tạo ra trò chơi điện tử Flappy Bird trên nền tảng di động Nguyễn Hà Đông nộp 1,4 tỉ đồng tiền thuế đã được coi là con số “khủng”.

    Tuy nhiên, ngoài việc thu thuế đúng và đủ với các hoạt động này, một câu hỏi không dễ với cơ quan quản lý thuế và nhà nước nói chung là tạo môi trường thuận lợi, không kìm hãm đà tăng trưởng mới chớm nở của kinh tế số.

    Một rào cản nhìn thấy ngay là việc ghi nhận doanh thu phát sinh. Trên thực tế, không ít các shop trên Shopee hay Lazada chỉ được dùng vào mục đích chào hàng, còn giao dịch thực sự diễn ra qua liên hệ trực tiếp bằng điện thoại, tin nhắn, khiến việc ghi nhận giao dịch mua bán online rất khó khăn. 

    Đã thế, bộ dữ liệu và năng lực khai thác dữ liệu trên hệ thống của ngành thuế hiện còn nhiều bất cập do đăng ký ngành nghề chưa sát với hoạt động kinh doanh thực tế.

    Thêm nữa, trong khi kiểm soát thu thuế với đối tượng kinh doanh trong nước đã có phương án, việc thu thuế từ đối tượng nộp thuế ở nước ngoài là thách thức lớn, đặc biệt là các giao dịch thương mại xuyên bên giới như đặt phòng trực tuyến hay bán hàng theo mô hình B2C và B2C.

    Theo nghiên cứu của Hãng kiểm toán EY hiện có hai cách chính. Một số quốc gia yêu cầu các nhà cung cấp nước ngoài thực hiện nghĩa vụ thuế trực tiếp với cơ quan thuế hoặc thông qua đại diện được ủy quyền ở nước sở tại. 

    Các nước khác yêu cầu những nền tảng thương mại điện tử nơi giao dịch được thực hiện phải khấu trừ, kê khai và nộp thuế thay cho nhà cung cấp nước ngoài.

    Cách tiếp cận đầu tiên yêu cầu các nhà cung cấp nước ngoài phải tuân thủ quy định về thuế của Việt Nam. Nếu họ không tự nguyện, việc thu thuế sẽ gặp nhiều khó khăn. 

    Trong nhiều trường hợp, ngay cả người bán hàng cũng không có đầy đủ thông tin của người mua để xác định liệu thu nhập có phải từ Việt Nam hay không.

    Cách tiếp cận thứ hai, trách nhiệm thuộc về các nền tảng thương mại điện tử hay ngân hàng trung gian, có vẻ là cách Việt Nam đang chọn. 

    Cách này thuận tiện hơn cho cơ quan thuế, nhưng các nền tảng thương mại điện tử sẽ phát sinh chi phí. “Họ sẽ phải theo dõi giao dịch với thu nhập phát sinh từ Việt Nam và tính toán số thuế phải nộp. 

    Ai sẽ là người chịu trách nhiệm khi phát sinh chênh lệch, sai sót, cũng là vấn đề cần suy ngẫm” - bà Trang Phạm, phó tổng giám đốc tư vấn thuế EY Việt Nam, nhận định.

    Một vấn đề nữa là tính toàn cầu của các doanh nghiệp thương mại điện tử. Channing Flynn, giám đốc dịch vụ thuế và giao dịch quốc tế toàn cầu của EY, cho rằng nếu một công ty hoạt động ở 80 hoặc 90 quốc gia, họ sẽ phải tuân thủ 80 hoặc 90 phép tính thuế khác nhau. 

    Do đó các công ty buộc phải xem xét sự phức tạp này ảnh hưởng thế nào đến chi phí kinh doanh. “Có thể thấy, tất cả sẽ trở nên vô cùng phức tạp” - ông Channing Flynn nói.

    Cũng phải tính tới cơ chế tránh đánh thuế hai lần giữa các quốc gia với nhau. Hiện OECD đang đi đầu trong nỗ lực toàn cầu nhằm khắc phục tình trạng này với dự án ban hành quy tắc thuế thống nhất toàn cầu cho nền kinh tế kỹ thuật số. 

    Đây được xem là một trong những thay đổi lớn nhất của hệ thống thuế thế giới một thế kỷ qua và hàng trăm quốc gia đồng ý tham gia. Dự kiến trong năm nay cơ chế này chính thức ra mắt. ■

    Bình luận
      Viết bình luận...

      Sở thuế và doanh nghiệp: Dưỡng và dung

      TRUNG TRẦN 5/3/2021 9:00 GMT+7
      • 245

      TTCT - Không thể tư duy sở thuế chỉ như một cơ quan quản lý nhà nước có nhiệm vụ thu thuế, đó còn phải là một trong những cánh tay đắc lực nhất của chính quyền để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển.

      Môi trường đầu tư, thị trường lao động, an ninh, pháp luật rành mạch và công bằng… hình thành nên hệ sinh thái khởi nghiệp cho doanh nghiệp, mà một trong những thành tố quan trọng nhất là chính sách thuế. 

      Ở Việt Nam hiện nay thì sắc thuế liên quan mật thiết nhất đến doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME), là thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN).

      Người dân và doanh nghiệp quyết toán thuế tại Cục Thuế TP.HCM sáng 26-3. Ảnh: QUANG ĐỊNH

       

      Thu thuế: Một dịch vụ công đặc biệt 

      Là công cụ quan trọng nhất trong việc bảo đảm ngân sách quốc gia, thuế không chỉ là nguồn để chi tiêu nhà nước mà còn là đòn bẩy hỗ trợ và kích thích hoạt động kinh doanh quan trọng. 

      Bản thân chính sách thuế TNDN của Việt Nam 20 năm qua đã có những cải cách đáp ứng được thực tế phát triển của nền kinh tế và phù hợp hơn với thông lệ quốc tế.

      Thuế suất căn bản của thuế TNDN đã giảm dần từ 28% xuống 25%, rồi 20% vào năm 2016, đồng thời xóa bỏ phân biệt thuế suất giữa doanh nghiệp nội địa và FDI. 

      Các chính sách ưu đãi, miễn giảm thuế cho các ngành nghề, vùng miền đặc thù để khuyến khích doanh nghiệp tham gia các lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng văn hóa, khoa học, giáo dục, địa phương kém phát triển, dân tộc thiểu số và ưu tiên nhân lực phụ nữ… đều đã được ban hành.

      Về chính sách, đây là những điểm son của quản trị công trong nỗ lực chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Thực tế cho thấy chính sách vĩ mô đã tạo ra những tác động tích cực hữu hình: nhiều doanh nghiệp hơn tham gia các lĩnh vực khó tạo ra lợi nhuận nhưng có tính phúc lợi xã hội cao, dễ thấy là các khoản đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao hay sự bùng nổ của lĩnh vực giáo dục hay xuất bản tư nhân.

      Bản thân sở thuế ít nhiều cũng giống một doanh nghiệp với nhiệm vụ thu đúng, thu đủ chỉ tiêu ngân sách - có thể coi là “doanh số mục tiêu” của “doanh nghiệp” sở thuế. 

      Nhưng ngoài mục tiêu cứng đó, sở thuế còn phải bảo đảm những khoản thu là hợp luật và hợp lý. Hợp luật là không thu sai, thu sót; và hợp lý là phù hợp với thực tế kinh doanh của doanh nghiệp - tức “khách hàng”. Lý thuyết hành chính công gọi là nguyên tắc “Công bằng, hiệu quả và khả thi”.

      Nói cách khác, hoạt động của sở thuế cần được hiểu thêm khía cạnh dịch vụ công đặc biệt, với khách hàng là doanh nghiệp. Ban đầu cần tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển, tức là dưỡng nguồn thu, sau đấy khi doanh nghiệp có lãi thì mới đến giai đoạn khai thác nguồn thu, và cần hỗ trợ doanh nghiệp cải tiến, minh bạch sổ sách kế toán.

      Vế sau thực sự quan trọng, bởi đa số doanh nghiệp ở Việt Nam khi đã đạt được một mức doanh số đáng kể nào đó, thì minh bạch tài chính luôn là vướng mắc lớn nhất, mà nguyên nhân thường từ cả hai phía, doanh nghiệp và sở thuế.

      Để làm đúng ngay từ đầu

      Thuế TNDN cơ bản được tính bằng công thức: Doanh thu trừ các khoản được miễn và chi phí hợp lý, rồi nhân với thuế suất. Với các SME, để giảm thiểu số thuế phải đóng, cách phổ thông nhất là tăng chi phí hợp lý, văn phòng phẩm, xăng xe, khách sạn, vé máy bay, ăn uống… Tất cả sẽ suôn sẻ trong vài năm đầu. Cho đến khi… cơ quan thuế thanh tra.

      Lúc này, khả năng của nhân sự kế toán cần mẫn, cẩn thận thuở đầu khởi nghiệp không còn đủ để giải trình với nhân viên sở thuế tại sao nhân sự công ty có 50 người mà 1 tháng dùng hết 200 bình nước lọc hay có đến 20 hóa đơn ăn nhậu.

      Chủ doanh nghiệp tự nhiên phải đối phó với tình cảnh đang có lời thì bị truy thu thuế gần hết, vò đầu bứt tai quay ra trách kế toán, và cuối cùng, tìm đến giải pháp là nhờ cậy... nhân viên sở thuế, vốn quá quen với những “ca” này.

      Câu chuyện thường thấy trước đây ở Việt Nam: nhân viên cục thuế vừa là người thu thuế vừa là… người tư vấn thuế không chính thức cho công ty. Bản thân doanh nghiệp thấy vẫn ổn. Sở thuế vẫn có số tăng trưởng và nhân viên thuế được “đảm bảo đời sống”. Chẳng phải như vậy ai cũng vui sao? 

      Vấn đề là trong dài hạn, mãi mãi doanh nghiệp đấy dù có tăng trưởng bao nhiêu vẫn khó lòng có được một hệ thống sổ sách kế toán minh bạch tương ứng với sự phát triển đã lên tầm mức mới của các yếu tố quản trị khác như công nghệ, quản trị sản xuất, hệ thống chất lượng…

      Để rồi đến lúc cần tái cấu trúc nhằm bước lên một đẳng cấp phát triển khác, dù chỉ để niêm yết hòng huy động thêm vốn, hay cho đúng các chuẩn mực quốc tế và vươn ra tầm khu vực hay thế giới, mọi chuyện trở nên cực kỳ rối rắm, khó khăn và chi phí tư vấn, minh bạch hóa tài chính đôi khi trở thành trở ngại lớn nhất.

      Trong trường hợp này, nhiều doanh nghiệp Việt Nam (và phải nói là có cả động lực từ phía nhà nước) đi ngược lại slogan của nhiều công ty Nhật Bản: “Do right at first time” (làm đúng ngay từ đầu); nhiều SME nội địa đang “làm sai ngay từ đầu”. 

      Hiện giờ, xu hướng số hóa nghiệp vụ kế toán và sử dụng tư vấn tài chính ngay từ đầu đang giúp giảm bớt những hệ lụy kiểu đó, nhưng để sự minh bạch tài chính trở thành nhu cầu thực sự của doanh nghiệp, sẽ cần sự góp sức quan trọng của nhà cung cấp dịch vụ công đặc biệt - sở thuế.

      Hiện sở thuế thường mở các lớp tập huấn 1-2 ngày để phổ biến chế độ kế toán cho doanh nghiệp. Nếu làm đúng thì phải hiểu nó như một dịch vụ cung cấp cho khách hàng thay vì là kiểu hội nghị không có KPI đo lường gì cả như hiện tại.

      Có thể tham khảo cách của người Úc hỗ trợ doanh nghiệp khai thuế trên trang ato.gove.org. Ngoài chỉ dẫn chi tiết về thủ tục làm báo cáo thuế, chính phủ còn nêu rõ các tình huống khó khăn mà doanh nghiệp lần đầu khai thuế hay gặp, đồng thời đưa ra hướng dẫn chi tiết theo chủ đề ứng với các hình thức kinh doanh: tại nhà, online…, thậm chí có cả bản tiếng Việt!

      Hỗ trợ chi tiết và hữu ích ngay từ đầu để doanh nghiệp quen lề lối làm đúng ngay khi khởi sự phải được coi là một mục đích quan trọng của sở thuế. 

      Để doanh nghiệp có được môi trường kinh doanh thuận lợi, họ mong muốn sở thuế dưỡng và dung. Dưỡng là cho họ cơ hội phát triển bằng các chính sách thuế, điều này chính sách vĩ mô đã làm khá tốt; nhưng dung, đảm bảo cho họ có tư duy làm đúng ngay từ đầu, là điều vẫn còn rất nhiều khúc mắc. ■

      Bình luận
        Viết bình luận...

        Gặp thời thế, thế thời phải thuế

        HOA KIM 8/3/2021 7:05 GMT+7
        • 245

        TTCT - Làm thế nào để các chính phủ có thể dung hòa giữa mong muốn cung cấp hỗ trợ kinh tế và kích thích tăng trưởng sau đại dịch COVID-19 với nhu cầu bù đắp thâm hụt ngân sách sau hơn một năm chống dịch tốn kém? Hay nói cách khác là làm sao tăng thu thuế mà không kìm hãm đà phục hồi sau dịch của nền kinh tế?

        Một hướng đi đang được một số nước ném đá dò đường là đánh thuế nền kinh tế số.

         Câu hỏi mà các nước phải đối diện trong năm 2021 không chỉ là các biện pháp hỗ trợ thuế cho người dân và doanh nghiệp trong năm 2020 hiệu quả đến đâu, mà còn là họ có đủ khả năng duy trì các khoản cứu trợ ngắn hạn này trong bao lâu nữa, và một chính sách bền vững hơn để thay thế chúng, nếu có, sẽ là gì?

        (Trích thư ban biên tập trong báo cáo The Inward Investment and International Taxation Review của Hãng tư vấn Skadden Arps Slate Meagher & Flom LLP)

        Thuế tự giác

        Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đang ra sức tìm kiếm một sự đồng thuận quốc tế trong việc đánh thuế nền kinh tế số, trong đó có dự án chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (dự án BEPS) với sự tham gia của hơn 135 nền kinh tế thông qua 15 hành động để giải quyết vấn đề lẩn tránh thuế do các doanh nghiệp đa quốc gia khai thác các lỗ hổng và sự thiếu phối hợp giữa hệ thống thuế của các quốc gia.

        Một số nước không đủ kiên nhẫn để chờ đợi một giải pháp chung đang tiến hành những chính sách đơn phương để tận dụng nguồn thu màu mỡ. “Thuế Google” của Tây Ban Nha, có hiệu lực từ ngày 16-1 năm nay, là một ví dụ. Sắc thuế 3% áp cho các công ty lớn có doanh thu toàn cầu từ 750 triệu euro trở lên, và doanh thu ở riêng Tây Ban Nha trên 3 triệu euro, áp dụng cho doanh nghiệp thuộc nhóm ngành dịch vụ trung gian và quảng cáo trực tuyến, bao gồm kinh doanh dữ liệu dựa trên thông tin người dùng. Tại Anh, “thuế dịch vụ số” hiệu lực từ ngày 1-4 áp thuế 2% trên doanh thu của một số công cụ tìm kiếm, mạng xã hội và sàn mua bán trực tuyến có doanh thu từ các dịch vụ số vượt quá 500 triệu bảng Anh và doanh thu từ các dịch vụ số tại Anh trên 25 triệu bảng Anh.

        Liên minh châu Âu (EU) và Úc cũng đã có cách tiếp cận tương tự. Ví dụ, EU đã thiết kế hệ thống Mini One Stop Shop (MOSS) yêu cầu các pháp nhân ngoài EU thuộc diện có thể đánh thuế phải đăng ký tại một trong các quốc gia thành viên.

        Tuy nhiên, mức độ tuân thủ của các đối tượng này đến đâu thì còn phụ thuộc vào tinh thần tự giác, vì chi phí để thực thi có hiệu quả trên thực tế là quá lớn và xác định vị trí của khách hàng những công ty này làm bằng chứng đánh thuế cũng không hề dễ dàng.

         
         

        Nhìn từ một nước Đông Nam Á

        Theo báo The Jakarta Post, các quy định thuế quốc tế hiện hành chỉ cho phép một quốc gia đánh thuế lợi nhuận của pháp nhân kinh doanh nước ngoài nếu pháp nhân đó tiến hành hoạt động kinh doanh thông qua một cơ sở thường trú (PE - permanent establishment) tại quốc gia đó. 

        PE được định nghĩa là một địa điểm cố định nơi các hoạt động kinh doanh được tiến hành, chẳng hạn như chi nhánh, văn phòng hoặc nhà máy. Quy định này đang lộ ra nhiều bất cập khi công nghệ đã và đang thay đổi nhanh chóng mô hình kinh doanh của các pháp nhân nộp thuế. Các giao dịch xuyên quốc gia ngày nay có thể được thực hiện từ xa mà không cần thiết lập sự hiện diện thực tế tại quốc gia của người tiêu dùng. Thực tế này có thể đặc biệt thấy rõ ở Indonesia, đất nước 270 triệu dân với nền kinh tế kỹ thuật số đang bùng nổ với tiềm năng đáng kể và được định giá đến 40 tỉ USD.

        Một đặc điểm cơ bản của các doanh nghiệp số là sự không phụ thuộc vào các tài sản hữu hình. Điều này cho phép những công ty này đăng ký hoạt động ở các nước thuế suất thấp mà không nhất thiết có sự hiện diện (vật lý) tại khu vực địa lý của khách hàng, tránh được các khoản thuế trên các giao dịch với người tiêu dùng ở quốc gia đó. Một nghiên cứu năm 2019 của Deutsche Bank ước tính đây là một trong những nguyên nhân chính gây thất thoát 50-70 tỉ euro tiền thuế mỗi năm ở khu vực EU, chiến 17-23% nguồn thu từ thuế doanh nghiệp.

        Chính phủ Indonesia từ năm 2020 đã ban hành luật về thuế trong lĩnh vực thương mại điện tử xuyên quốc gia. Luật này cho phép cơ quan thuế nước này xem một nhà cung cấp nước ngoài có “sự hiện diện kinh tế đáng kể” (SEP - significant economic presence) ở Indonesia như là có cơ sở thường trú, vì vậy có thể bị đánh thuế trên lợi nhuận kinh doanh xuyên biên giới. SEP được xác định dựa trên các yếu tố như nhà cung cấp đó có phát sinh doanh thu, có tệp người dùng hay các hoạt động marketing bền vững tại một quốc gia.

        Tuy nhiên, các hiệp ước về thuế mà Indonesia đã ký kết không công nhận khái niệm SEP, khiến quy định này không mang lại hiệu quả như kỳ vọng trong thực tế. Để lấp kẽ hở, luật cũng giới thiệu khái niệm “thuế giao dịch điện tử” (PTE) để đánh thuế lợi nhuận kinh doanh của các nhà cung cấp nước ngoài thuộc phạm vi tài phán của các đối tác có ký kết hiệp ước thuế với Indonesia. Tuy vậy, vì PTE tách bạch với hiệp ước thuế nên nhiều chuyên gia lo ngại quy định này có thể dẫn đến tình trạng doanh nghiệp bị đánh thuế hai lần.

        Chính phủ Indonesia cũng đang cố gắng thắt chặt các quy định thương mại điện tử trong năm qua để quản lý ngành công nghiệp có tổng giá trị hàng hóa đạt 83 tỉ USD năm 2020, theo báo cáo e-Conomy SEA 2020. Các biện pháp bao gồm quy định về con dấu điện tử trên hóa đơn chứng từ giao dịch số, yêu cầu doanh nghiệp vừa và nhỏ phải xin cấp phép mới được bán sản phẩm của họ trên các sàn thương mại điện tử, và buộc các sàn này ưu tiên hàng hóa nội địa và có khu vực đặc biệt để giới thiệu các sản phẩm này nhằm bảo vệ thương hiệu trong nước trước làn sóng hàng ngoại nhập.

        Indonesia có khoảng 34 triệu game thủ, ước tính chi 1,1 tỉ USD/năm cho các trò chơi điện tử theo số liệu năm 2018, và con số này được dự báo tăng lên 4,3 tỉ USD vào năm 2030, đưa Indonesia vào top 5 quốc gia chi tiêu nhiều nhất cho trò chơi điện tử, cũng theo AGI. Điều đáng buồn là chỉ 0,4% số tiền này thuộc về nhà phát triển game trong nước, trong khi tuyệt đại đa số doanh thu từ game chảy vào túi các nhà cung cấp nước ngoài mà chính phủ vẫn đang loay hoay tìm cách đánh thuế - Deo Damiani, một cựu game thủ hiện làm việc cho một công ty tư vấn và nghiên cứu về thuế, viết cho trang CNBC Indonesia. Theo chính sách thuế mới có hiệu lực từ tháng 7-2020, trò chơi điện tử thuộc danh mục hàng hóa hoặc dịch vụ vô hình được phân phối thông qua hệ thống điện tử và bị đánh thuế giá trị gia tăng 10% - do người chơi chi trả.

        Bình đẳng và trung lập

        Theo bà Laura Simmonds - một luật sư về thuế từng làm việc trong Dự án BEPS của OECD, mọi quốc gia cần chú ý các nguyên tắc công bằng, đối xử bình đẳng và trung lập khi thực hiện các biện pháp đơn phương nhằm đánh thuế nền kinh tế số, ít nhất là cho đến khi một giải pháp quốc tế được thống nhất.

        OECD thừa nhận áp lực đánh thuế nền kinh tế số đang gia tăng vì đại dịch COVID-19. Tháng 12 năm ngoái, tổng thư ký OECD Angel Gurría tuyên bố trong một cuộc họp báo trực tuyến rằng các công ty công nghệ đang phát triển mạnh mẽ trong đại dịch sẽ là mục tiêu của các quốc gia đang tìm kiếm nguồn lực để giật gấu vá vai.

        Mỹ, quê nhà của các công ty công nghệ lớn nhất thế giới, dường như sẽ gánh lấy phần thiệt nhiều hơn nếu ngày càng nhiều nước áp thuế các giao dịch số. Nhận ra điều này, dưới thời tổng thống Donald Trump, Mỹ sẵn sàng đe dọa áp thuế trả đũa đối với hàng hóa nhập khẩu từ các quốc gia đơn phương áp thuế kỹ thuật số gây thiệt hại cho gà nhà.

        Tổng thống Pháp Emmanuel Macron năm ngoái đã phải chọn giải pháp hòa hoãn với người đồng cấp Mỹ và chấp nhận dời thời hạn cân nhắc dự luật đánh thuế các dịch vụ số sang năm 2021. Trước đó, Pháp từng dự định đánh thuế 3% doanh thu từ các dịch vụ cung cấp cho người dùng ở Pháp bởi các công ty có doanh thu trên 25 triệu euro ở Pháp và tổng doanh thu 750 triệu euro toàn cầu. Đáp lại, ông Trump dọa áp thuế 100% lên các mặt hàng nhập khẩu từ Pháp như phô mai Camembert, rượu vang và rượu champagne.

        Gurría từng cảnh báo vào cuối năm 2019, “không đạt được thỏa thuận (về đánh thuế nền kinh tế số) trong năm 2020 sẽ làm tăng đáng kể nguy cơ các quốc gia sẽ hành động đơn phương, gây ra những hậu quả tiêu cực đối với nền kinh tế toàn cầu vốn đã mỏng manh”. Thực tế ra sao thì thời gian đã trả lời.■

        Các nhà lập pháp bang Connecticut của Mỹ đang xem xét một dự luật mà nếu được thông qua sẽ đánh thuế doanh thu quảng cáo kỹ thuật số từ những gã khổng lồ như Facebook, Amazon và Google. Những người ủng hộ đến từ cả hai phe Cộng hòa và Dân chủ cho rằng dự luật này có thể tạo ra nguồn thu lên tới 250 triệu USD/năm, dù vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ các nhà vận động hành lang của ngành công nghệ. Maryland vào tháng 2 năm nay trở thành bang đầu tiên thông qua loại thuế này và các biện pháp tương tự đang được xem xét ở ít nhất 5 bang khác cũng như nhiều nước châu Âu.

        Bình luận
          Viết bình luận...

          Đóng thuế trời Tây

          MAI MAI HƯƠNG - HOÀNG OANH 7/3/2021 10:00 GMT+7
          • 245

          TTCT - Ở Anh, Pháp, Đức và Đan Mạch, người ta đóng thuế - một trong những nghĩa vụ công dân cơ bản nhất - như thế nào?

          Kiếm sống ở khu vực có hệ thống thuế vào hàng phức tạp nhất thế giới, người Việt ở châu Âu đang phải đóng những khoản thuế thu nhập rất cao, nhưng sự am hiểu và ý thức của họ về thuế cũng rất cao.

          Đức: 
Thuế phí cao, hỗ trợ nhiều

          Năm 2006, ông Vũ Lê khai trương Linh Restaurant ở một khu dân cư vệ tinh 15.000 dân của thành phố Osnabrück, bang Niedersachsen. Nhà hàng Việt Nam duy nhất trong khu vực này trở thành điểm hẹn của nhiều gia đình Đức mê đồ Việt và trong các đợt phong tỏa do dịch COVID-19, họ trụ vững nhờ đông đảo khách quen đặt món mang về. 

           
           Hệ thống thuế ở Đức rất phức tạp.

           “Ăn tại quán thì thuế VAT 19%, còn mang đi thì VAT 7%. Trong dịch thì các món đều bán mang đi. Giá rẻ xuống nên mình vẫn kinh doanh được” - bà Trinh Lê, phụ trách bàn của nhà hàng, cho biết. Doanh thu 2020 của nhà hàng chỉ thấp hơn các năm trước khoảng 15%.

          Làm cho nhà hàng của em trai từ năm 2008, bà Trinh Lê có mức lương 3.000 euro/tháng. “Trừ thuế và rất nhiều khoản bảo hiểm khác thì tiền chuyển vào tài khoản ngân hàng chỉ còn gần 2.000 euro” - bà Trinh cho biết. 

          Người lao động ở Đức thường phải đóng rất nhiều khoản như thuế thu nhập, bảo hiểm y tế, bảo hiểm chăm sóc sức khỏe dài hạn, bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm thất nghiệp, thậm chí có người đóng cả thuế nhà thờ tự nguyện... 

          Với thuế suất lũy tiến 0-45% trên lương, tăng giảm tùy tình trạng hôn nhân của người nộp thuế được xếp vào 6 dạng khác nhau, công thức tính thuế thu nhập cá nhân của Đức là vào loại phức tạp nhất thế giới. 

          “Thu chi tiết đủ thứ khoản nhưng cũng có các khoản miễn giảm chi tiết. Mình đi làm xa, mỗi ngày đi về hết 80km thì cuối năm được trả lại kha khá tiền hỗ trợ tính theo quãng đường từ nhà đến chỗ làm, chẳng hạn như tiền xăng, tiền hao mòn xe, tiền sửa xe. Có con thì được trợ cấp tiền nuôi con...” - bà Trinh giải thích.

          Khi Linh Restaurant không thể bán tại chỗ vì COVID-19, bà Trinh Lê nhường việc cho các bạn trẻ. 

          Thông báo thất nghiệp, bà được hưởng 1.500 euro/tháng trợ cấp trong một năm và được chọn một trong hai hình thức hỗ trợ: theo học chương trình đào tạo chuyển đổi nghề hoặc phải thường xuyên nộp đơn xin việc ở những nơi chương trình tìm việc giới thiệu, nếu không sẽ bị giảm trợ cấp. 

          Chọn cách thứ nhất, bà Trinh được cấp 17.000 euro để nộp học phí và hiện đang theo khóa đào tạo hai năm về quản lý doanh nghiệp. “Học xong còn được thưởng 2.500 euro nữa. Họ cũng tính hết rồi, thưởng để mình học cho tốt, đặng còn ra đi làm tiếp để họ thu thuế mình tiếp” - bà Trinh nói vui.

          Trong khi đó, Linh Restaurant của ông Vũ Lê sau nhiều năm đóng thuế cao ngất cũng đang nhận được các hỗ trợ không nhỏ: 65% tiền lương của các nhân sự đang làm theo chế độ ít ngày (2-3 ngày/tuần) và 80% chi phí sửa sang lại vườn quanh nhà hàng - để chuẩn bị đón khách trong “trạng thái bình thường mới” (ngồi giãn cách và ở ngoài trời) - đều được chính quyền chi trả.

          40 năm sinh sống ở Đức, bà Trinh Lê và gia đình tin tưởng tiền đóng thuế của họ luôn được nhà nước sử dụng hợp lý. “Thuế là vậy, ai cũng phải đóng thôi. Không ai nộp thuế lấy gì đất nước phát triển. Nên tôi không suy nghĩ nhiều về các khoản phải đóng” - bà khẳng định.

          Anh: Đóng thuế để 
xã hội công bằng

          Sinh sống ở thị trấn Reading, thuộc vùng South East England, cách London khoảng 40km, bà Yến Croxford làm trình dược viên cho hãng dược nổi tiếng ở Anh Boots Alliance từ năm 2008 với mức lương 36.000 bảng Anh/năm. 

           
           Ảnh: Business Review

          Như những người làm công ở Việt Nam, bà không phải đau đầu khai thuế vì đã có công ty tính cho. Với mức lương của mình, trừ phụ cấp cá nhân dao động trong khoảng 11.000-12.500 bảng/năm, bà đóng thuế ở mức thuế suất 20% cho khoản thu nhập chịu thuế. 

          “Lương 3.000 bảng một tháng, công ty cắt hơn 400 bảng để đóng thuế và bảo hiểm, mình còn lại hơn 2.500 bảng” - bà Yến cho biết. Chồng bà, một kỹ sư hệ thống, có thu nhập khoảng 5.500-10.000 bảng/tháng, nên chịu mức thuế suất cao hơn hẳn, lên đến 40% cho phần thu nhập chịu thuế đã được trừ phụ cấp cá nhân.

          Dù vậy, khi được hỏi cảm thấy thế nào trước mức thuế suất quá cao như vậy, bà Yến cho đó là việc đương nhiên: “Từ tiền thuế của mình, chính phủ mới có ngân sách để chi cho các khoản như làm đường sá, xây trường học. Chúng tôi biết tiền thuế của mình luôn được sử dụng đúng và cảm thấy như thế là mình có đóng góp cho xã hội, chứ không phải là bị lấy mất tiền của, công sức”.

           Ví dụ cụ thể mà bà Yến cho rằng tiền hai vợ chồng đóng thuế đang góp phần giúp xã hội tốt đẹp hơn là việc Chính phủ Anh từ năm 2001 đã miễn phí vào cửa cho mọi người dân ở các bảo tàng và phòng trưng bày quốc gia.

          Pháp: Đóng thuế được hướng dẫn tận tình

          Năm 2014, bà Dung Huỳnh mở tiệm Équilibre ở quận 2, Paris. Nằm cuối khu phố đi bộ nổi tiếng Montorgueil - Petits Carreaux, tiệm ăn xinh xắn này nhanh chóng trở thành “quán ngon phố mình” nhờ một món chuẩn vị Việt: bò bún (tên phổ biến mà người Pháp gọi bún thịt bò xào sả). 

           
           Ảnh: Business Review

          Mùa đông, khách xếp hàng từ quầy bán ra cả ngoài đường chờ mua bữa trưa nhưng chủ tiệm vẫn không có kế hoạch kê thêm bàn.

          “Có quy định là nhiều bàn thì các phần ăn đều phải tính VAT 19,8%, còn ít bàn thì VAT là 19,8% cho phần ăn tại chỗ và 10% cho phần mang đi. Tiệm tui nhỏ, mở có buổi trưa, khách chủ yếu mua mang đi nên được bán với VAT đồng mức 10%. Tăng bàn thì thuế họ không cho tính VAT mức đó nữa, mà VAT cao hơn thì giá cao hơn, khó bán hơn” - bà Dung cho biết.

          Lý do Équilibre chỉ bán buổi trưa dù nằm trên con phố nhộn nhịp ngày đêm một phần cũng vì thuế. “Doanh thu 150.000 euro/năm trừ hết các chi phí hoạt động, kể cả lương và bảo hiểm cho chủ tiệm và nhân viên, và một phần chi phí đầu tư ban đầu, thì lãi ròng hơn 20.000 euro, đóng thuế 30% xong còn lại khoảng 14.000 euro. Nếu doanh thu cao hơn, thì qua mức thuế khác, nộp tới 40% cho nhà nước” - bà Dung cho biết. 

          Một mình vừa lo tiệm vừa chăm con nhỏ, nhắm không có sức để tăng doanh thu và đóng thuế cao hơn, bà Dung quyết định lấy công làm lời và không bán buổi tối.

          Nhớ lại lúc mới làm quen với thủ tục thuế của Pháp, bà chủ tiệm Équilibre cho biết mọi việc đã khá dễ dàng ngay từ ban đầu. Phòng thuế hẹn bà đến quầy tư vấn để hướng dẫn, nhưng thấy khách lúng túng, nhân viên tư vấn mời vào phòng họp riêng để trình bày chậm rãi hơn. 

          Sau này, mỗi kỳ đóng thuế theo quý và quyết toán hằng năm, bà Dung thực hiện qua mạng và chưa bao giờ bị gây phiền hà. “Chắc họ ý thức được là mình đem tiền tới để nuôi họ, nuôi nhà nước, nên họ hướng dẫn tận tình. Dễ thương lắm kìa!” - bà Dung nhận xét.

          Đan Mạch: Tiền thuế đi đâu?

          Tháng 3 vừa rồi, lần đầu tiên tôi làm chuyện ấy: đóng thuế ở Đan Mạch. Đó là mơ ước của tôi và hẳn cũng của cả nhiều người nhập cư nước ngoài từ khi đặt chân sang đất nước Bắc Âu này. Vì sao tôi lại dùng từ “mơ ước”? Nghe có hơi quá không, nhất là khi Đan Mạch nằm trong số những quốc gia có mức thuế cao nhất thế giới?

           Ảnh: Insider

          Từ những gì bản thân tôi quan sát và trải nghiệm hơn hai năm qua, tôi nghĩ là mình đã dùng đúng từ.

          Thuế thu nhập cá nhân ở Đan Mạch thường dao động trong khoảng 37-45% tùy mức thu nhập. Những người thu nhập đặc biệt cao (tầm nửa triệu kroner/năm tức gần 80.000 USD/năm) thì sẽ phải chịu thuế suất lên tới 59%.

          Tất cả mọi người có thu nhập tại Đan Mạch đều phải chịu thuế, với quy định chi tiết rõ ràng. Lấy ví dụ trường hợp cháu trai của chồng tôi, Albert, năm nay 14 tuổi. 

          Mỗi cuối tuần cháu đón xe buýt lên nhà ông bà ngoại để làm vườn, và được ông bà trả công theo giờ, thu nhập này được miễn thuế. Nhưng hằng tuần cháu cũng được thuê dọn dẹp nhà xông hơi công cộng bên bờ biển thuộc quản lý của địa phương nơi gia đình sinh sống, thu nhập này phải chịu thuế.

          Những ai cố tình nhận “tiền đen”, nghĩa là không thông báo cho sở thuế biết về thu nhập của mình với mục đích trốn thuế, sẽ bị phạt rất nặng, thậm chí có thể đi tù. 

          Năm ngoái từng có một chị người đồng hương hỏi tôi có muốn làm cho chị ấy theo dạng này không, công việc đơn giản, nhẹ nhàng, không đóng thuế, đôi bên cùng có lợi. Rất may là tôi đã từ chối vì không muốn mạo hiểm ở một đất nước thượng tôn pháp luật, và hiểu rằng đóng thuế là nghĩa vụ và quyền lợi, là cách mình thực hành dân chủ và sự công bằng.

          Hiện tôi làm nhân viên văn phòng cho một công ty xuất nhập khẩu của Đan Mạch. Tháng 3 vừa rồi, tôi nhận được bản tất toán thuế năm đầu tiên, trong đó liệt kê chi tiết số tiền tôi đã nộp, các khoản khấu trừ, số tiền hoàn thuế. 

          Ngoài lương ở chỗ làm chính, tôi và chồng mỗi người có một công ty riêng để nhận công việc làm thêm (việc cá nhân lập “công ty một người” để cung cấp dịch vụ tự do rất phổ biến ở Đan Mạch).

          Mỗi khi gửi hóa đơn thanh toán cho khách hàng, chúng tôi cộng thêm 25% tiền thuế giá trị gia tăng và để dành số tiền này nộp cho sở thuế vào đầu tháng 3. 

          Ngoài thuế giá trị gia tăng cao, Đan Mạch còn có thuế tiêu thụ đặc biệt mà người mua phải trả đánh vào bia, rượu, sôcôla, kẹo, pin...; rồi thuế xanh đánh vào sử dụng những nguồn tài nguyên chung của xã hội như điện, nước, xăng, dầu, xử lý rác...

           
           Ảnh: Insider

           Tuy phức tạp, hệ thống thuế ở Đan Mạch cũng rất rõ ràng và minh bạch. Mọi người dân đều có thể truy cập vào trang web của sở thuế (www.skat.dk) để tìm hiểu thông tin, gọi điện để được trả lời hoặc đặt lịch hẹn gặp mặt trực tiếp để được tư vấn.

          Tiền thuế thu được sẽ chia một phần cho chính phủ, một phần cho địa phương cư trú (ở vùng của tôi là 25,9% thu nhập cá nhân), 8% cho Quỹ thị trường lao động, 1% cho nhà thờ (nếu bạn là thành viên giáo hội Luther ở Đan Mạch).

          Đi kèm với thuế là phần mà ai cũng thích: quyền lợi khi đã đóng thuế. Phúc lợi xã hội từ thuế của Đan Mạch thuộc hàng nhất nhì thế giới. 

          Tôi có cảm giác người sống ở Đan Mạch cứ việc đóng thuế thôi, sau đó có thể yên tâm sống đời mình mà không phải lo nghĩ gì nhiều, tất cả đã có chính phủ lo: chi phí khám chữa bệnh cho toàn dân từ lúc sinh ra đến khi lìa đời; giáo dục hoàn toàn miễn phí, sinh viên đại học còn có lương tháng; người thất nghiệp được trợ cấp với mức cao nhất hơn 19.000 kr/tháng (khoảng 70 triệu đồng) trong hai năm; và nhiều khoản hỗ trợ khác cho người lao động như tiền nghỉ ốm, tiền thai sản, tiền chăm con ốm, tiền hỗ trợ nuôi con cho đến khi 18 tuổi...

          Thuế cũng được dùng để trả lương cho người làm công việc giúp đỡ người già, người tàn tật. Chẳng hạn như tầng trên chung cư của vợ chồng tôi có ông già tên Lau sống một mình và có dấu hiệu trầm cảm, mỗi tuần đều có người từ trên quận cử đến để chăm sóc, trò chuyện cùng ông, giúp ông dọn dẹp nhà, đi chợ. 

          Hoặc như anh bạn thân Morten của chồng tôi làm nghề chăm sóc người bị thiểu năng trí tuệ. Có lần anh ngồi tính chi phí được trả bằng thuế để chăm sóc một người thiểu năng không có khả năng lao động, rồi giật mình thốt lên: “Đất nước này quá giàu!”.

           
           Hệ thống giáo dục Đan Mạch hoàn toàn miễn phí từ mẫu giáo tới hết đại học. Ảnh: Insider

          Ngoài ra, còn có rất nhiều những khoản phúc lợi khác cũng trả bằng thuế, như toàn bộ hệ thống thư viện miễn phí; hệ thống trường đặc biệt højskole, nơi sinh viên sống và học tập mà không có các kỳ thi hay bài tập nhằm giúp họ “tìm ra mục đích đời mình”, được chính phủ trả 2/3 chi phí; hoặc nếu bạn có nhu cầu sửa nhà với mục đích tiết kiệm năng lượng, nhà nước cũng sẽ hỗ trợ. 

          Vợ chồng tôi dự định sẽ thay cửa sổ căn hộ nhà mình vì cửa sổ cũ cách nhiệt không tốt, nên sẽ nộp đơn lên quận để được thanh toán kinh phí.

          Mục đích của hệ thống thuế Đan Mạch là để tạo ra một xã hội bình đẳng, một lưới an toàn để đỡ lấy những người chẳng may “vấp ngã”, bảo đảm không ai bị bỏ lại. Cũng phải nói Đan Mạch làm được thế nhờ đã nhiều năm liền đứng đầu danh sách các quốc gia minh bạch và ít tham nhũng nhất thế giới - khiến người đóng thuế yên tâm và tin tưởng.

          Trong hơn hai năm sống ở đây, tôi chưa gặp một người Đan Mạch nào than phiền chuyện sưu cao thuế nặng cả. Trái lại, họ đều nói: “Tôi hài lòng khi đóng thuế!”, vì họ biết rõ họ đã cho đi và nhận lại những gì. Trong tiếng Đan Mạch, thuế được gọi là “skat”, có thể tạm dịch là “Bé yêu”!

          Bình luận
            Viết bình luận...