TTCT - Thăng hoa với những cuộc đời, những phận người khác nhau dưới ánh đèn màu - niềm đam mê đó quá lớn. Bởi vậy, khi thời hoàng kim của cải lương đã lùi xa, những diễn viên ít được nhớ tên của đoàn cải lương ở một tỉnh nghèo như Phú Yên vẫn lênh đênh gắn đời mình vào sân khấu.

Phóng to
Bữa cơm chiều đạm bạc của nghệ sĩ, diễn viên đoàn Tây Đô được dọn ra trước thềm trụ sở HTX Đồng Lãnh - nơi cho đoàn tá túc trong thời gian biểu diễn - tại xã Hòa Quang Bắc, huyện Phú Hòa - Ảnh: Phương Trà

Họ đã chọn cải lương

Phượng Yến là một trong hai đào chính của đoàn cải lương Tây Đô. Cha từng là ông bầu đoàn cải lương Hương Xuân ở Khánh Hòa, mẹ cũng duyên nợ với nghiệp diễn, Phượng Yến thừa hưởng từ họ năng khiếu và niềm đam mê nghệ thuật. Năm 16 tuổi, rụt rè bước lên sân khấu, Phượng Yến không ngờ nghiệp cầm ca rồi sẽ đặt mình trước muôn trùng khó khăn.

Sau khi cha mẹ qua đời, đoàn Hương Xuân tan rã, cô con gái rượu của ông bầu đến với đoàn Tây Đô và gắn bó hơn 10 năm nay. Tại đây, Phượng Yến nên duyên vợ chồng với một nhạc công. Hai đứa trẻ ra đời, hạnh phúc đến cùng nỗi lo tụi nhỏ sao có thể theo đoàn rày đây mai đó. Và với thù lao 40.000-50.000 đồng mỗi đêm diễn làm sao trang trải cuộc sống, lo chuyện học hành cho con?

“Thời gian qua, ngành đã bố trí kinh phí hỗ trợ khi các đoàn nghệ thuật ngoài công lập biểu diễn phục vụ ở các xã vùng sâu vùng xa, vùng bãi ngang... theo chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hóa, song mức hỗ trợ rất thấp, chỉ 3,5 triệu đồng/suất. Chúng tôi đang suy nghĩ làm sao có những hỗ trợ thỏa đáng hơn - kể cả từ kinh phí phát triển sự nghiệp văn hóa - lồng ghép với các chương trình, tạo điều kiện cho các đoàn nghệ thuật ngoài công lập tham gia các hoạt động phục vụ đời sống tinh thần của người dân, giúp họ khắc phục khó khăn”.

“Với tôi, sân khấu cải lương đã thành cái nghiệp, không bỏ được. Còn chồng tôi dù rất yêu nghề nhưng đành chia tay với cây đờn, trở về Vạn Giã, Khánh Hòa theo thuyền đi biển, lo cho đứa con gái lớn đang học lớp 6, đứa nhỏ thì đi theo mẹ” - nữ diễn viên hơn 40 tuổi tâm sự, giọng nhòa đi cùng những nỗi niềm.

Ngoài mẹ thì những gì mà cô con gái mới tròn 1 tuổi của Phượng Yến nhìn thấy hằng ngày là gầm sân khấu, là góc phòng nào đó của những ngôi nhà gần nơi đoàn dừng chân mà hai mẹ con xin tá túc qua đêm… 1 tuổi, cô bé đã quen với những giấc ngủ có nhiều âm thanh, có cả tiếng bước chân lộp cộp không ngừng bên trên sàn sân khấu.

Người lớn tuổi nhất đoàn Tây Đô là nghệ sĩ Nguyên Hoàng Hạnh (tên thật là Nguyễn Hữu Hạnh), gốc ở Bình Thuận. Đời ông có thể viết thành một vở cải lương lấy được nước mắt của những khán giả dễ mủi lòng. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, cậu bé Hạnh được dì đón về nuôi và lớn lên trong cảnh nghèo. “Tôi thấy cải lương rất hay, đưa cả cuộc đời, cả xã hội lên sân khấu” - Nguyên Hoàng Hạnh thổ lộ. Và ông - một người thiếu thốn tình thương - đã chọn cải lương để “làm đẹp cho mình, cho đời”.

Đêm đêm, nghệ sĩ 63 tuổi chuyên đóng vai phụ này bước lên sân khấu, khóc cười cho cuộc đời các nhân vật; còn vợ ông soát vé, gác cổng, ban ngày thì làm chị nuôi.

Đêm diễn tan, cởi bộ áo quan thái thú, ông hội đồng…, Nguyên Hoàng Hạnh trở lại là Nguyễn Hữu Hạnh, một người đi gần hết cuộc đời vẫn không nhà, không hộ khẩu. Vợ chồng ông cũng không có con. Bao năm qua, sân khấu đoàn Tây Đô là nhà của họ. “Vậy mà tôi vẫn thấy hạnh phúc! Chắc tại tôi không có nhu cầu gì cao sang hết. Chỉ cần được hát, hát cho tới cuối đời, vậy là vui” - ông thổ lộ với một nụ cười.

Cải lương ở tỉnh, bây giờ...

Hơn một thập kỷ sau khi rất nhiều đoàn cải lương tan rã, thi thoảng ở các vùng quê Phú Yên, những người còn nặng tình với câu vọng cổ, với tích cũ tuồng xưa lại thấy lòng rộn lên khi các đoàn cải lương Tây Đô, Hoa Biển về biểu diễn. Lọ mọ dắt cháu đến sân bãi HTX Đồng Lãnh (xã Hòa Quang Bắc, huyện Phú Hòa, Phú Yên) để coi vở cải lương Trăng về bến hẹn, bà Nguyễn Thị Thảy (73 tuổi) kể: “Tui đi coi suốt bảy đêm. Đoàn diễn hay lắm. Vừa rồi nấu chè cúng rằm tui cũng đem ra cho các cô chú ăn lấy thảo”.

Người lớn chỉ cần bỏ ra 10.000 đồng, trẻ em 5.000 đồng là bước vào bên trong sân bãi để thỏa mãn niềm đam mê hoặc sự hiếu kỳ. Địa điểm biểu diễn của các đoàn thường là trụ sở UBND xã, thôn hoặc khu đất trống; mỗi đêm diễn thu hút hơn 100 người xem. Khán giả không tìm được chỗ gửi xe hoặc không muốn gửi xe cũng cứ mua vé rồi dắt cả xe đạp lẫn xe máy vào sân bãi.

Tây Đô là đoàn cải lương của gia đình. Vợ chồng ông bầu (cũng là đào, kép chính) quê ở huyện Tuy An (tỉnh Phú Yên). Họ có hai con theo đoàn, người làm diễn viên, người chơi đờn; em vợ cũng là nhạc công. Ông bầu Nguyễn Minh Vũ kể trước đây ông hát cho các đoàn Hậu Giang, Đồng Nai, Sông Trà… gia đình vợ cũng theo nghiệp đờn ca. Rồi lớn tuổi, giọng hát không còn ngọt, làn hơi không còn khỏe như trước. Thêm vào đó, thời hoàng kim của cải lương dần qua, các đoàn tan rã.

“Tình cảnh khó khăn, tôi quyết định “lội ngược dòng nước”, thành lập đoàn Tây Đô vào năm 1997 để vừa góp phần gìn giữ cải lương, vừa duy trì hoạt động nghệ thuật của gia đình mình” - nghệ sĩ 59 tuổi này nói.

Rong ruổi qua khắp các miền quê, từ Đà Nẵng, Quảng Nam, Ninh Thuận rồi lên Đắk Nông, Lâm Đồng... 24 con người, gồm diễn viên, nhạc công, hậu đài của đoàn Tây Đô coi sân khấu là nhà, coi những đêm diễn là cuộc sống. Trót theo nghiệp cầm ca rày đây mai đó, lâu lâu mới về thăm gia đình, họ chỉ biết gửi nỗi nhớ nhà nhớ quê vào trong câu hát.

Đêm đêm, sau khi sân khấu hạ màn, khán giả đã ai về nhà nấy, giường của các diễn viên, nhạc công, hậu đài… là sàn sân khấu. Trưa, sau bữa cơm đạm bạc dưới gầm sân khấu, họ tìm bóng cây cột võng ngả lưng. Mùa mưa cực gấp trăm lần, giấc ngủ của họ đong đưa theo nhịp võng dưới gầm sân khấu.

Tiếng võng chìm trong tiếng mưa, nghe còn buồn hơn bản Dạ cổ hoài lang! Mà mùa mưa ở miền Trung thường kéo dài...

Bình luận
    Viết bình luận...