Mỹ và NATO: Trục trặc

TƯỜNG ANH 02/06/2026 09:40 GMT+7

TTCT - Căng thẳng giữa Mỹ và các đối tác trong liên minh NATO đang gia tăng. Hoa Kỳ dần xem xét lại vai trò toàn cầu và tìm cách giảm bớt gánh nặng đảm bảo an ninh châu Âu, trong khi các đồng minh châu Âu đang cân nhắc các lựa chọn của họ.

a - Ảnh 1.

Ảnh: Foreign Policy

Ngày 1-5, Reuters đưa tin Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth ra lệnh rút 5.000 (trong tổng số 38.000 binh sĩ Mỹ đồn trú) khỏi Đức trong vòng từ sáu tháng đến một năm. 

Không lâu sau đó, ngày 5-5, Reuters đưa tin Nhà Trắng hủy bỏ kế hoạch của chính quyền Biden về triển khai một tiểu đoàn tên lửa tầm xa Tomahawk đến Đức. 

Báo Time cho biết thêm: Ngoài giảm sự hiện diện quân sự của Mỹ, châu Âu (cụ thể là Anh, Ba Lan, Litva) còn phải đối mặt với sự chậm trễ trong việc giao vũ khí do Mỹ sản xuất (vì Mỹ đang bận bổ sung kho vũ khí của chính họ, hao hụt trong chiến tranh với Iran).

Cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt

Thoạt nhìn, đây có vẻ là phản ứng của ông Trump trước những chỉ trích mới nhất đến lúc đó của đồng minh NATO Đức. Ngày 27-4, phát biểu tại một trường trung học ở Marsberg, Thủ tướng Đức Friedrich Merz tuyên bố Mỹ có nguy cơ sa lầy ở Trung Đông, chỉ trích Mỹ đã tỏ ra yếu kém khi bị Iran "làm cho mất mặt" và Washington thiếu một kế hoạch rõ ràng để rút khỏi cuộc xung đột.

Ngay sau đó, vào 29-4, trên Truth Social, ông Trump chỉ trích gay gắt ông Merz, cho rằng ông "hoàn toàn không biết mình đang nói gì", rằng Thủ tướng Đức "đang làm việc rất tệ" và nước Đức đang phải đối mặt với đủ loại vấn đề, nên ông Merz tốt hơn là hãy ít tập trung vào Iran, lo mà giải quyết xung đột ở Ukraine, nhiệm vụ mà theo nhà lãnh đạo Mỹ, Đức cho đến nay vẫn chưa làm được.

Quan hệ của Mỹ với NATO đã có biểu hiện trục trặc từ nhiệm kỳ đầu của ông Trump (2017-2021). Bất đồng nảy sinh liên quan đến đóng góp của các nước châu Âu vào ngân sách NATO. Chính quyền Trump yêu cầu các thành viên NATO tăng ngưỡng chi tiêu quốc phòng lên 5% GDP, thay vì mức 2% khi đó. 

Trong nhiệm kỳ đầu, ông Trump cũng nêu ý định rút 12.000 binh sĩ Mỹ khỏi Đức và đã thúc đẩy cắt giảm ngân sách cho NATO, nhưng chưa thực hiện được vì thất cử, và ông Biden đã đảo ngược kế hoạch này.

Trong nhiệm kỳ thứ hai, ông Trump tăng cường chỉ trích các đồng minh châu Âu, từ đe dọa rời NATO đến tuyên bố xét lại sự hiện diện của Mỹ ở châu Âu. Chính sách của chính quyền Trump với Ukraine làm trầm trọng thêm những khác biệt giữa các bên. 

Sau đó, những bất đồng khác lại nảy sinh về thuế quan mà Trump áp đặt lên các thành viên EU. Bất đồng giữa châu Âu và Hoa Kỳ lên một mức cao mới sau bài phát biểu của Phó Tổng thống Mỹ J.D. Vance ở Hội nghị An ninh Munich năm 2025, trong đó ông cáo buộc một số nhà lãnh đạo châu Âu theo đuổi các chính sách có thể dẫn đến "sự hủy diệt của nền văn minh phương Tây".

Đến tháng 2-2026, rạn nứt gia tăng liên quan đến cuộc chiến với Iran. Một số nước châu Âu như Áo, Thụy Sĩ, Tây Ban Nha, và Ý đã đóng cửa không phận với máy bay quân sự Mỹ trong cuộc xung đột. Mặt khác, châu Âu công khai bày tỏ lo ngại Mỹ tập trung quá nhiều vào các mối đe dọa ở châu Á và Trung Đông, làm suy yếu bảo đảm an ninh của Mỹ với châu Âu.

Thách thức cho an ninh châu Âu

Tất cả những diễn biến nêu trên không phải là những hành động đơn lẻ, mà nhất quán với một phần của kế hoạch lớn hơn, thể hiện qua Chiến lược An ninh quốc gia (NSS) của Mỹ được công bố vào tháng 11-2025. 

NSS đặt ra các ưu tiên trong chính sách đối ngoại cho toàn bộ nhiệm kỳ tổng thống. Cụ thể, Washington xác định các thể chế siêu quốc gia châu Âu - chủ yếu là EU - là công cụ để đàn áp tự do chính trị và chủ quyền. Nhà Trắng tin rằng chính vì các chính sách của Brussels mà các quốc gia châu Âu đang đánh mất bản sắc dân tộc.

Từ khi bắt đầu nhiệm kỳ 2 của ông Trump, hầu như không có tuần nào trôi qua mà không có một cuộc tranh cãi mới giữa chính quyền Trump và châu Âu. Nhưng sau một năm cãi cọ về tranh chấp thuế quan, sau lời đe dọa của ông Trump đòi sáp nhập Greenland, và bất đồng về viện trợ cho Ukraine, mối đe dọa nghiêm trọng nhất với châu Âu giờ là sự rút lui của Mỹ.

Quân đội Mỹ đã hiện diện ở Đức từ năm 1945, là một trong những lực lượng Mỹ lớn nhất đóng ở nước ngoài, chỉ sau Nhật Bản. 5 trong số 9 doanh trại và khoảng một nửa số quân nhân Hoa Kỳ đóng ở châu Âu là ở Đức. 

Có trụ sở chính tại Stuttgart, Bộ Tư lệnh châu Âu của Hoa Kỳ giám sát nhiều nhiệm vụ, bao gồm điều phối cung cấp vũ khí cho Ukraine. Trụ sở Bộ Tư lệnh châu Phi của Hoa Kỳ cũng nằm ở Stuttgart. Chính vì thế mà The New York Times nhấn mạnh tầm quan trọng của "hệ sinh thái quân sự Mỹ" ở Đức, đặc biệt trong việc tạo ra công ăn việc làm tại đây.

Đó là chưa kể châu Âu đang lệ thuộc lớn vào vũ khí Mỹ. Tiếp đó là những lo ngại về việc Ukraine sẽ hụt hơi nếu thiếu hỗ trợ của Washington. Ukraine vốn đã phải đối mặt tình trạng thiếu hệ thống tên lửa phòng không Patriot và đạn dược cho chúng, giờ lại gặp vấn đề về đạn dược cho các hệ thống HIMARS và NASAMS, theo báo Anh Financial Times.

NATO: Từ 1.0 đến 3.0

Theo chiến lược gia Lầu Năm Góc kiêm Thứ trưởng Bộ Chiến tranh Elbridge Colby, quyết định mới của Washington "không hề có yếu tố chống châu Âu": Mỹ chỉ đơn giản muốn tập trung vào những thách thức "nơi chỉ sức mạnh Mỹ mới có thể đóng vai trò quyết định", tức ở châu Á và Tây bán cầu, trong khi các nước châu Âu sẽ phải nhận trách nhiệm chính trong an ninh của chính mình. 

Tuyên bố này được ông Colby đưa ra vào ngày 12-2 trong cuộc họp bộ trưởng quốc phòng NATO ở Bỉ. "Bối cảnh địa chính trị hiện nay đòi hỏi phải tái cấu trúc NATO", ông nói, bổ sung rằng Mỹ và các đồng minh phải sẵn sàng trước "các đối thủ tiềm tàng hoạt động đồng thời ở nhiều mặt trận".

Colby gọi giai đoạn NATO được thành lập từ 1949 - 1991 là "NATO 1.0". Trong giai đoạn này, NATO đã thực hiện hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ và răn đe Liên Xô. Khi đó, Hoa Kỳ đảm nhận trách nhiệm chính về an ninh châu Âu do tiềm năng quân sự của lục địa già đã suy yếu nghiêm trọng sau Thế chiến II.

Sau khi Liên Xô sụp đổ, NATO bước vào giai đoạn mà Colby gọi là "NATO 2.0", chuyển trọng tâm từ phòng thủ tập thể sang tiến hành hoạt động ngoài khu vực. Các quá trình giải trừ quân bị và giảm quân số quy mô lớn bắt đầu diễn ra ở châu Âu. 

Về mặt tư tưởng, giai đoạn này đánh dấu sự dịch chuyển khỏi cán cân quyền lực cổ điển, trong đó NATO ngày càng được nhìn nhận không chỉ là một liên minh phòng thủ, mà còn là công cụ để duy trì ổn định toàn cầu và xuất khẩu an ninh ra ngoài phạm vi trách nhiệm của liên minh.

Nhưng ngày nay theo Colby, mô hình NATO 2.0 không còn phục vụ lợi ích của Hoa Kỳ. Ông đề xuất phần nào quay trở lại với các nguyên tắc cốt lõi của NATO 1.0, tập trung vào phòng thủ và răn đe. 

Tuy nhiên, cách hiểu mới này giả định một vai trò khác cho châu Âu, trong đó họ không nên phụ thuộc vào đảm bảo an ninh của Mỹ nữa, dù Colby nhấn mạnh Hoa Kỳ không có ý định từ bỏ "ô hạt nhân" và nghĩa vụ răn đe hạt nhân tập thể. 

Theo ông, châu Âu nên trở thành đối tác an ninh toàn diện của Hoa Kỳ, chứ không chỉ là một bên phụ thuộc. Ngoài ra, NATO phải đồng thời thực hiện các chức năng quân sự và chính trị. Chức năng quân sự là răn đe và phòng thủ thông qua năng lực quân sự mạnh mẽ. Chức năng chính trị là hòa giải, đối thoại và kiểm soát vũ khí thông qua ngoại giao.

Colby đề xuất mô hình NATO 3.0 trong bối cảnh cạnh tranh với Trung Quốc, khi Washington sẵn sàng duy trì vai trò quân sự chủ đạo, đặc biệt là trong lĩnh vực hạt nhân, nhưng là để đối trọng với Bắc Kinh. 

Châu Âu, trong cán cân quyền lực toàn cầu đó, sẽ phải lui về có tính khu vực và phải tự đảm trách an ninh, chưa kể là có thể được yêu cầu tham gia nỗ lực kềm chế Trung Quốc của Mỹ.■

Nhiều nhà lãnh đạo châu Âu vẫn khẳng định NATO là trụ cột an ninh của châu lục, nhưng thừa nhận liên minh đang trải qua "cuộc khủng hoảng niềm tin" sâu sắc. NATO thậm chí đang xem xét chấm dứt tổ chức hội nghị thượng đỉnh thường niên và quay lại cơ chế không cố định do những rạn nứt trong quan hệ với Mỹ.

Cùng lúc, các nước châu Âu bắt đầu phát triển các biện pháp an ninh thay thế trong trường hợp Mỹ rút lui. Theo tờ Wall Street Journal, những ý tưởng này đã xuất hiện từ lâu, nhưng đang được đẩy nhanh hơn trong bối cảnh bất đồng ngày càng tăng.

Vadim Kozyulin, nghiên cứu viên chính tại Học viện Ngoại giao thuộc Bộ Ngoại giao Nga trên trang kp.ru liệt kê một số biện pháp thiết thực mà EU đã và đang thực hiện: phát triển cơ sở hạ tầng để triển khai quân đội nhanh chóng, thành lập các lực lượng phản ứng nhanh và tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển quân đội giữa các quốc gia thành viên, hiện đại hóa mạng lưới giao thông...

Ngoài ra, châu Âu cũng xem xét việc xây dựng ô hạt nhân độc lập với Hoa Kỳ. Tháng 7-2025, Pháp và Đức đã ký tuyên bố Northwoods nêu rõ mong muốn phối hợp lực lượng hạt nhân của họ.

Tại Hội nghị An ninh Munich năm ngoái, Thủ tướng Đức Merz thông báo đã khởi động đàm phán với Pháp về năng lực răn đe hạt nhân của châu Âu. Anh, Hà Lan, Bỉ, Hy Lạp, Thụy Điển, Đan Mạch và Ba Lan cũng bày tỏ tán thành. Pháp đã có kế hoạch tiến hành tập trận hạt nhân chung với Ba Lan trong tương lai gần ở miền bắc Ba Lan và biển Baltic.

Bình luận Xem thêm
Bình luận (0)
Xem thêm bình luận