Sơn mài Nam bộ - Nhìn từ triển lãm "Chu tất bình dân"

PHẠM HOÀNG QUÂN
14/07/2026 06:52 GMT+7

TTCT - Những người thợ, nghệ nhân, chủ xưởng bình dân đã định hình một dòng sản phẩm mỹ nghệ cao cấp và đặc sắc trong dòng văn hóa Việt ở vùng đất phương nam: Sơn mài Nam bộ.

Tôi nghĩ đến bốn chữ "Chu tất bình dân" khi muốn nói về một nghề thủ công hòa quyện kỹ thuật với mỹ thuật, một nghề cho ra sản phẩm thật sang trọng từ sự cần cù tỉ mẩn của biết bao người.

 - Ảnh 1.

Vẽ phủ mài (Cấy lúa, Trương Văn Thanh, 40x60cm, ~1970)

 - Ảnh 2.

Vẽ nổi (Đường quê, Lục Ký, 50x81cm, ~1950)

Chu (châu) là màu đỏ, tất là cây sơn. Nhựa cây sơn là nguồn nguyên liệu chính để chế tác đồ sơn, nhựa sơn qua sơ chế cho ra màu đen và màu cánh gián; còn màu chu (đỏ son) tiêu biểu và đại diện cho bảng màu vật phẩm sơn. 

Chu và tất mang tính biểu tượng về phổ màu trong nghề sơn cổ truyền và cả kỹ nghệ sơn mài ngày nay. Hai chữ "bình dân" là để gợi lên hình ảnh người họa sĩ, nghệ nhân, thợ sơn… của nghề sơn mài đặc biệt lao nhọc.

Người họa sĩ tài hoa lịch lãm mới tối hôm qua tay nâng ly vang lắc lắc đúng điệu ở phòng triển lãm sang chảnh bình tranh tán gẫu, hôm sau lại bận xà lỏn ở trần ngồi xổm hí húi với đá mài nang mực giấy nhám, nhễ nhại lấm lem, tựa anh thợ hồ.

Nguồn gốc nghề sơn

Nghề sơn hình thành trên cơ sở sử dụng nhựa cây sơn làm nguyên liệu chính. Chữ "tất" (漆), tức cây sơn, và những đồ vật được sơn là "tất khí"

(漆器) được ghi nhận trong thư tịch Trung Hoa từ thời cổ đại, qua những pho sách kinh điển từ thời tiên Tần như Thi kinh, Thư kinh, Lễ ký, Xuân Thu… Nhiều hiện vật có dấu vết dùng sơn tô vẽ lên đồ vật được khảo cổ phát hiện có niên đại còn xưa hơn ghi chép văn tự. Điều này cho thấy lịch sử lâu đời của nghề sơn trong dòng chảy văn minh nhân loại. Ngoài Trung Quốc - nơi có sử liệu sớm nhất, nhiều quốc gia châu Á có nghề sơn truyền thống vẫn lưu truyền và phát triển rực rỡ đến nay như Nhật Bản, Triều Tiên, Miến Điện…

                Chu tất cho sơn mài

Qua bộ sưu tập tư nhân đồ mỹ nghệ sản phẩm do giới nghệ nhân và thợ sơn làm ra cách nay chừng hơn 50 năm, càng thấy vai trò thầm lặng của những người thợ vốn luôn ở trong hậu trường. 

Hai chữ "chu tất" (sơn son) đồng âm với từ "chu tất" trong tiếng Việt, có nghĩa "làm xong công việc, không thiếu sót gì". Ở góc độ này, có thể liên tưởng đến lịch sử nghề sơn mài, dù trong điều kiện không mấy thuận lợi, những người thợ, nghệ nhân, chủ xưởng trong quá khứ đã làm rất tốt phần việc của mình, những người bình dân ấy đã định hình một dòng sản phẩm mỹ nghệ cao cấp và đặc sắc trong dòng văn hóa Việt ở vùng đất phương nam.

Qua tư liệu sử và một ít hiện vật khảo cổ, có thể tạm xác định nghề sơn ở nước ta đã hình thành cách nay khoảng 1.000 năm. Ban đầu nghề sơn trang trí có thể chỉ trong phạm vi cung đình, kế tiếp là mở rộng đến các làng nghề với dịch vụ tiểu thủ công "sơn son thếp vàng" đồ thờ tự ở đình chùa chẳng hạn.

 - Ảnh 3.

Cẩn trứng (Đấu vật, Công ty Trường Mỹ, 60x40cm, 1987)

Sau khi thành lập trường Mỹ thuật Đông Dương (1925), nghề sơn được chú trọng hơn bởi sự phối hợp giữa nghệ nhân làng nghề với họa sĩ sáng tác - cho ra đời một thể loại hội họa độc đáo của dân tộc: Sơn mài.

Từ "sơn mài" xuất hiện khoảng những năm 1930, để chỉ những tác phẩm hoặc vật phẩm ứng dụng kỹ thuật "mài" như một công đoạn bắt buộc khi chế tác và sáng tác. 

Ở Trung Quốc hay Nhật Bản hiện nay, tranh sơn mài mỹ thuật cũng chưa được thành tựu đặc sắc như hội họa sơn mài Việt Nam. Ở Trung Quốc, khi viết về đồ sơn hay tranh sơn nội địa thì dùng từ "tất họa" (tranh sơn), "tất khí" (đồ vẽ dùng sơn), còn khi đề cập đến sản phẩm từ Việt Nam thì gọi "ma tất họa" (Vẽ mài sơn). 

Đây là điểm phải lưu ý, bởi nó không chỉ là vấn đề thuật ngữ, mà còn nói lên khác biệt quan trọng, định hình thể loại hội họa riêng biệt của Việt Nam trên bản đồ nghệ thuật thế giới. 

Tuy nhiên, với nghề làm đồ sơn (tức "tất khí" ở Trung Quốc) thủ công mỹ nghệ thì các nước trong khu vực đạt đến trình độ tinh xảo hơn Việt Nam rất xa.

 - Ảnh 4.

Cẩn phù điêu Lão Ông đặc trưng trang phục dân tộc, cẩn ngà và sừng

 - Ảnh 5.

Cẩn phù điêu - Lão Bà, đặc trưng trang phục dân tộc, cẩn ngà và sừng

           Sơn mài Thủ Dầu Một - Sài Gòn

Kể từ năm 1901 - năm mà người Pháp mở trường dạy nghề thủ công ở Thủ Dầu Một, phải hơn 40 năm sau, vùng đất này mới thực sự hình thành không gian làng nghề sơn mài. 

Nhiều bài viết và công trình nghiên cứu về lịch sử nghề sơn mài như sách Sơn mài ứng dụng Bình Dương (2015) của họa sĩ Nguyễn Văn Minh, Sơn mài Bình Dương, đường đến di sản văn hóa do Sở Văn hóa, Thể thao và du lịch tỉnh Bình Dương biên soạn (2020) cho thấy sự nhộn nhịp của nghề này bắt đầu từ sau năm 1943, lúc thành lập hãng sơn mài Thanh Lễ (do ông Trương Văn Thanh và ông Nguyễn Thành Lễ sáng lập).

Các thể loại sơn mài

Một sản phẩm sơn mài, dù là món đồ dùng hay bức tranh, đều được thực hiện bằng nhiều kỹ thuật với màu sắc và dáng vẻ riêng. Trên nền tảng cơ bản là sơn ta (nhựa cây sơn) làm nền, chất liệu dùng để diễn tả hoa văn hoặc tạo hình có thể là bột màu, vàng quỳ, bạc quỳ, ốc xà cừ (hoặc vỏ trai), vỏ trứng, ngà, xương, gỗ… Một sản phẩm có thể dùng một hoặc phối hợp nhiều loại chất liệu. Dựa vào thực tế vật phẩm từ bộ sưu tập, có thể phân làm 6 thể loại chính:

1. Vẽ phủ mài: Hình vẽ nằm dưới lớp sơn phủ.

2. Vẽ nổi: vẽ màu, hoặc thếp vàng, hình vẽ nằm trên lớp sơn quang.

3. Khắc trũng (miền Bắc gọi "sơn khắc"), trên mặt nền sơn hoàn chỉnh, khắc nét và tô màu.

4. Cẩn ốc: Trên nền vóc, gắn các loại ốc theo mảng hình, sơn, đánh bóng, tách nét trên ốc.

Cẩn ốc (Mai lan cúc trúc, Văn Thoát, 30x40cm, 1970). Trên nền vóc, gắn nổi các mảng họa tiết từ ốc đã cưa lọng, trải qua 20 lần sơn và mài để lớp sơn có độ dày bằng với vỏ ốc, sơn phủ và đánh bóng, cuối cùng là thợ tách dùng dao khắc đường nét lên ốc.

5. Cẩn trứng: Trên nền vóc, gắn vỏ trứng màu trắng, và trứng hơ qua lửa để tạo sắc độ đậm nhạt, phải qua cỡ 10 lần sơn và mài để lớp sơn có độ dày bằng với vỏ trứng, cuối cùng là sơn phủ và đánh bóng.

Dự án kết nối di sản thông qua chuyển thể tranh dân gian trên giấy sang hình thức sơn mài (gồm các kỹ thuật cẩn ốc, cẩn trứng, vẽ phủ, khắc trũng) do Công ty Du lịch TP.HCM phối hợp với Trường Đại học Tổng hợp TP.HCM (Phòng Nghiên cứu khoa học) và cơ sở Sơn mài Trường Mỹ thực hiện. (Nguồn: Báo Tuổi Trẻ 10-11-1987, Nhân sản xuất bộ tranh dân gian đầu thế kỷ XX bằng nghệ thuật sơn mài, Quang Thắng).

6. Cẩn phù điêu: Trên nền sơn quang, gắn phù điêu ngà, xương, sừng, gỗ... Cũng có dạng phối hợp nhiều lớp màu chìm hoặc nổi.

Cẩn phù điêu (Lão Ông, Lão Bà, đặc trưng trang phục dân tộc, cẩn ngà và sừng). Tác phẩm không ghi năm, nhưng hai chữ Thanh Lễ (清禮) (do ông Trương Văn Thanh hợp tác với ông Thành Lễ), đây vốn là thương hiệu tiền thân của hãng Thành Lễ, thương hiệu này tồn tại khoảng 1943-1951.

 - Ảnh 6.

Bình phong sơn mài (khuyết danh, ~1970), loại nhỏ, dùng tạo điểm nhấn trong trang trí phòng khách, loại hàng mỹ nghệ khá phổ biến trước đây. Đề tài “Vinh quy” quen thuộc trong mẫu mã truyền thống được cách tân theo lối “trẻ con hóa” vui mắt. Đây là sản phẩm của nghệ nhân Sáu Lực Sĩ (Nguyễn Quang Thy), người từng làm cho hãng Trần Hà, sau tự sản xuất tại nhà ở Thủ Dầu Một rồi đem bỏ mối cho các tiệm mỹ nghệ Sài Gòn.

"Thống kê năm 1945, ngoài làng sơn mài Tương Bình Hiệp với hàng trăm hộ gia đình làm nghề, còn có các cơ sở sản xuất khác như Trần Hà, Văn Thoát, Phát Anh, Lai Leaux, Sông Gianh… thu hút hàng ngàn thợ" (theo Nguyễn Văn Minh). 

Nhiều con số thú vị khác có thể nêu ra trong lịch sử làng nghề, như 90% hộ gia đình ở Tương Bình Hiệp làm nghề sơn hoặc sơn mài. Một mẩu quảng cáo trên tập san Văn nghệ tháng 11-1951 cho thấy "Hãng Văn Thoát" còn mở văn phòng và xưởng sản xuất ở Đô thành Sài Gòn, giống như nhiều hãng lớn khác. 

Một khảo sát hồi thập niên 1970 cho biết đồ sơn mài chủ yếu xuất đi từ Sài Gòn, bán cho khách ngoại quốc 7 phần, nội địa chỉ 3 phần (Phạm Mạnh Cường, bản thảo đánh máy). Những thông tin này cho thấy tương quan mật thiết giữa vùng sản xuất với thị trường tiêu thụ của một ngành nghề non trẻ.

Mượn câu trong sách xưa: "Người sành điệu không đòi hỏi ai đó phải hoàn hảo mọi mặt, nếu họ có tài hoa riêng, biết tô điểm cho đời thì vẫn đáng trân trọng, tỉ như như lớp sơn son làm đẹp cho bề mặt vật dụng vậy". Một vật phẩm từ bàn tay nghệ nhân, từ tư duy thẩm mỹ bình dân với nét vẽ thô kệch đi nữa, vẫn có ý nghĩa và giá trị riêng bởi hơi thở và nhịp sống một thời.

Bộ sưu tập này không chỉ những vật phẩm mỹ nghệ lặng yên, mà qua đó còn hiện lên một không gian làng nghề sôi động với hơn 140 tên hiệu của nghệ nhân và hãng xưởng ở địa bàn Thủ Dầu Một - Bình Dương và Sài Gòn - TP.HCM. 

Phần nhiều vật phẩm trong bộ sưu tập đã gần như thuộc loại "đồ cổ", bởi không còn sản xuất được với sơn mài công nghệ làm nhanh hiện nay.

Không gian văn hóa đúng nghĩa của một làng nghề truyền thống là gì nếu không phải là nơi nhộn nhịp sản xuất và mua bán, nhà nhà đều vui vì no đủ dư dả với nghề. Sơn mài mỹ nghệ hiện nay phần lớn được làm ra bởi chất liệu không phải sơn tự nhiên, tức cơ bản nghề đã biến chất nhiều; nhà thợ sản xuất nhỏ lẻ muốn giữ đúng lối truyền thống không tranh nổi với vài công ty lớn, nên phải bỏ nghề, khiến làng nghề ngày càng thưa vắng. Làng nghề do đó khó quảng bá với chỉ vài ba công ty lớn hoạt động. ■

 - Ảnh 7.

Bộ đồ trà sơn mài. Trương Văn Thanh, vẽ cá vàng sơn phủ (1970). Gồm khay, bình, hủ, hộp, ly, dĩa, muỗng. Bộ đồ trà có trình độ kỹ thuật và mỹ thuật xuất chúng, không thấy dạng tương tự trên thị trường, có thể là hàng mẫu thể nghiệm. Độ tinh xảo có thể sánh với vật dụng mỹ nghệ Nhật Bản.

Bài viết sử dụng hình ảnh từ bộ sưu tập "Sơn mài mỹ nghệ truyền thống khu vực Thủ Dầu Một - Sài Gòn - TP.HCM (1950-1990)" của Công ty sách Huyền Đức & Phạm Hoàng Quân. Bộ sưu tập hiện được trưng bày tại Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ TP Hồ Chí Minh từ 4-7 đến 4-10-2026.