Somerset Maugham có một truyện ngắn mà tôi rất thích.
Tôi vẫn nhớ khung cảnh lần đầu đọc truyện ấy. Bốn mươi năm trước. Montpellier. Một chiều đông. Trạm xe buýt. Trời khô. Gió lạnh.
Mùa đông ôn đới, qua ngọ vài giờ trời đã tối. Như chỉ chờ có thế, khí từ những rặng núi tuyết lao xuống phủ kín mẩu đất gần biển này. Màn đêm và gió lạnh luôn chiến thắng, vì thị dân tất thảy bỏ chạy về nhà. Chôn chân ở bến buýt, mặc chuyến này đến chuyến kia qua, chỉ những kẻ không dám về.

Tranh: Kim Duẩn
Lòng tôi khi ấy đầy tâm sự. Vì cái sự học. Bay mãi bay mãi mà tôi vẫn không hạ cánh được. Xuống gần đến đất, khi thì tay chân luống cuống, tôi nhấc bổng máy bay lên, lúc thì não đóng băng, tôi hóa đá để máy bay cứ thế mà cắm xuống. Mình có thành phi công được không, ban đầu tôi tự vấn. Nhưng đến khi ấy, tôi đã bắt đầu nghĩ, bị đuổi vác mặt về nhà thì làm việc gì.
Đó là lúc tôi đọc được đoản truyện của Somerset Maugham, trong tuyển tập truyện cực ngắn của ông.
Câu chuyện đã giúp cho tôi nhiều. Nó thậm chí thay đổi cách nhìn của tôi. Cố nhiên, do không là thần chú hay kinh kệ, nó không biến tôi thành siêu phi công sau một tối. Nó chỉ làm tôi thấy mọi thứ nhẹ nhàng. Tôi phần nào làm lành với cái sự bết bát của mình.
Ái mộ thứ gì đó, ta có xu hướng đào sâu và chia sẻ. Cặm cụi vài ngày, tôi dịch xong 4000 chữ. (Giá mà hạ cánh tôi cũng lẹ như vậy). Tự hào, hồ hởi, tôi gửi cho bạn bè.
"Văn chương gì cái thứ này!"
"Truyện dạy làm giàu? Làm giàu không khó à?"
"Tính chuyển sang làm một năm hưởng cả đời đây".
Trái với mọi kỳ vọng, tôi chủ yếu nhận về những phản hồi như trên. Hóa ra, truyện ngắn này đã vượt ra khỏi trang sách và lọt vào tay bọn bán hàng đa cấp. Chỉ vài thập kỷ, không ai còn biết gốc gác của nó. Truyện hóa kiếp thành một bài học kinh doanh: ai cũng có thể vượt qua nghịch cảnh vươn đến thành công.
Khó có từ nào diễn tả được nỗi niềm vỡ lẽ của tôi. Tôi đâu khờ khạo đến mức chống lại xã hội. Người hiện đại khó mà sống ngoài vòng xoáy tiền và tiền nhiều hơn, tăng trưởng và tăng trưởng cao hơn. Tuy nhiên, tôi cứ tưởng rằng vòng xoáy ấy có điểm dừng. Nó có thể cuốn phăng tất cả, nhưng sẽ chừa truyện cực ngắn vô hại này ra.
Không biết tác giả có ngậm ngùi như người đọc không. Tôi cho ít có khả năng. Nhà văn già đời chắc chẳng bận tâm. Giới văn sĩ chẳng phải luôn miệng để tác phẩm có đời sống riêng hay sao. Dù cho nó có thành siêu phẩm, thành rác rưởi, hoặc như trường hợp này, thành công cụ của tư bản chủ nghĩa.
Nhưng tôi không phải nhà văn. Tôi là người hâm mộ. Tôi không cam tâm.
Không cam tâm thì cậu làm được gì? Somerset Maugham chắc chắn sẽ hỏi.
Chắc chắn, tôi không biết trả lời.
Thời gian trôi.
Tôi rốt cuộc cũng trở thành phi công. Dĩ nhiên, không phải siêu phi công. Ngành này có câu, không có phi công giỏi - phi công giỏi nằm dưới ba tấc đất hết rồi - chỉ có phi công già. Tôi trở thành phi công già. Tuổi nghề lẫn tuổi đời.
Trong mấy thập kỷ, thi thoảng, hoài niệm đưa tôi lại thời học viên. Những dịp ấy, đoản truyện nọ luôn hiện về như một kỷ niệm dang dở. Thế là tôi lại lần giở đọc. Và bao lần như một, cảm giác ê chề.
Lần hồi, mảnh ký ức này biến mất trong bộ nhớ càng ngày càng ít chỗ chứa của tôi. Nó tan dần như mặt trời xứ ôn đới những buổi chiều đông.
Cho đến một ngày.
Vào một bữa tiệc, tôi gặp anh Linh. Tiệc tổ chức trên đảo, khách mời hạn chế. Du thuyền đưa rước. Rượu vang đã ủ ít nhất hai mươi năm. Anh bắt tay tôi, một bàn tay ấm, nụ cười tươi hút ánh nhìn vào khuôn mặt hồng hào và làn da không nếp nhăn. Anh tiếp tôi tựa gặp lại một đồng chí cũ.
"Tôi cũng từng bay mà, captain", anh nói. Dàn nhạc giao hưởng chơi những nốt dạo.
Và bắt đầu kể.
Nhìn Linh bay những giờ đầu tiên, người ta gọi anh là born to fly - sinh ra để bay.
Chuyến đầu, Linh đã giữ được máy bay ổn định. Hai chuyến sau, anh thực hiện chuẩn xác mọi bài tập khó, nghiêng cánh, xoay vòng, thậm chí bay là là sát đất. Hai chuyến nữa, thời điểm đa số đám chim non mới vừa hết say, Linh đã hạ cánh được. Kít. Kít. Kít. Bữa ấy, ông thầy không tin thằng trò vắt mũi chưa sạch làm được, thử Linh ba lần. Ba lần như một. Linh đặt máy bay vào tâm đường băng, bánh chạm đất chỉ nghe tiếng kít. Kiss landing. Hạ cánh ngọt như một nụ hôn.
Thằng này born to fly, ông thầy gật gù.
Thật ra, khen Linh born to land - sinh ra để hạ cánh - thì đúng hơn. Linh chỉ biết mỗi một việc là đáp máy bay xuống đường băng.
Hạ cánh quan trọng, nhưng phi công đâu chỉ cần biết mỗi hạ cánh. Cũng như cầu thủ đâu chỉ cần rành mỗi việc sút bóng. Phải biết nhiều thứ khác. Không giỏi, nhưng phải trên trung bình. Có điều, không gì tìm được đường vào tâm trí Linh.
Luật à? Tài liệu à? Bản đồ à? Máy móc à? Quản lý à? English à? Phù phiếm, Linh nghĩ.
Linh trôi chảy được phần đầu. Phần đầu căn bản, gọi là bay bằng mắt. Bay lúc trời quang mây tạnh. Phi công nhìn ra ngoài, men theo núi lần theo sông, băng rừng xuyên thành phố, thấy đường băng, sà xuống, kít, hạ cánh, tắt máy, xong việc. Linh một lèo qua môn trước ánh nhìn thảng thốt của toàn trường.
Học phần tiếp theo, phần quan trọng nhất, born to fly lộ sở đoản. Tài gặp tai.
Bay thiết bị.
"Bay bằng mắt là bay phủi. Bay thiết bị mới dành cho phi công thực thụ", một giáo viên tóm tắt nhập môn.
Rằng, phi cơ thương mại chở khách chỉ bay trên cao, tám - chín cây số trở lên. Trên ấy, mắt nào mà thấy được gì, chỉ biển là biển, mây là mây, núi là núi. Vậy nên, phi công phải lần đường từ những thiết bị trên buồng lái.
Bay kiểu này, học viên không được ngó ra ngoài, phải đeo một cặp kính y chang tấm bịt mắt ngựa, che tất cả chỉ chừa bảng điều khiển bên trong. Không sao, học trò nhảy số, đục một lỗ nhỏ lên mắt kính, lâu lâu đá mắt ra ngoài. Khi giáo viên biết chuyện, họ bịt kín tất cả cửa sổ. Đến nước này, chỉ có dựa vào những thứ phù phiếm nọ mới đi đến nơi về đến chốn.
Linh bó tay chịu sầu. Không thấy ngoài, Linh như qua một vùng đất xa lạ thưa người mà xe thì hư và trời thì tối. Anh cũng biết, chỉ cần dựa vào sáu cái đồng hồ là tìm được đường thoát, nhưng anh không hiểu nổi những cây kim, những con số trên ấy. Với anh, chúng không khác gì ghi chú của Einstein viết trên bảng về thuyết tương đối, tay chân Linh run và não từ chối hoạt động. Một dữ liệu nào đó ghi lên ADN của anh báo động ấy là lúc nguy hiểm, giống như bẩm sinh có người sợ độ cao, có người sợ khoảng hẹp.
"Từ từ cũng quen thôi", tôi tham gia câu chuyện. "Bị bay thiết bị nó hành, tôi thấy nhiều lắm. Nhưng chậm cỡ mấy, sáu tháng một năm là bay được".
"Ai cũng động viên tôi vậy, captain. Bạn bè, đàn anh, giáo viên"
"Hạ cánh khó mà anh còn rào rào…"
"Nhưng", anh chép miệng, mắt nhìn ra xa, "sao hoài, mà không quen".
Che cửa sổ đeo kính vào, Linh biến thành con gà mờ. Chỉ có gỡ rèm tháo kính Linh mới trở lại thành chim.
Phải học tủ, Linh quyết. Anh thuộc lòng mọi thứ, đến mức trên giường nhắm mắt cũng làu làu đến sân bay này ở vị trí này, phương hướng bao nhiêu, độ cao bao nhiêu, tốc độ bao nhiêu. Ông thầy ra đề bay hướng này hướng kia, mình sẽ bay thế này thế kia. Âu cũng là một cách học. Từ từ rồi quen, anh em bạn bè chậc lưỡi. Bay thôi mà, có phải lên mặt trăng đâu.
Linh lê lết qua được gần hết học phần bay thiết bị.
Kiểm tra cuối khóa, Linh thi với thầy Jack. Anh khấp khởi mừng. Thầy Jack không phải thiên thần, nhưng cũng không hung thần, và chưa ai chết dưới tay thầy bao giờ. Sáng cửa!
Bài bay kiểm tra diễn ra bình thường. Giữa chừng, thầy Jack đưa vài yêu cầu là lạ.
"Nào, Linh, ở vị trí này, hãy vòng trái 30 độ".
Linh lắc tay lái, máy bay quay 30 độ.
"Tốt. Giờ vòng phải 60 độ".
Linh làm theo. Dễ. Dễ lạ.
Ông thầy cho lên lên xuống xuống trái trái phải phải một hồi. Toàn những thứ căn bản, Linh nghĩ. Hôm nay thầy bật chế độ thiên thần rồi.
"Giờ, bay đến đài dẫn đường, bay vòng chờ 2 phút, rồi xuống hạ cánh".
Cờ mở trong bụng Linh. Hai chữ hạ cánh làm Linh phấn chấn.
Linh cho máy bay xuống gần mặt đất.
"Nào, trước khi gỡ kính hạ cánh, cho tôi biết ta đang ở đâu".
"Trước đường băng".
"Chắc chứ?"
"Affirmed, sir", chắc thưa thầy.
Kính mở ra. Một khoảng không bao la màu lá cây đột ngột hiện trên cửa sổ. Một giây sau, khoảng không ấy rõ nét thành những lùm cây. Giây kế tiếp, lùm cây tỏ dạng những chiếc lá và những chùm nho. Xứ này nức tiếng rượu vang vì có loại nho thượng hạng. Nho trồng ở những thửa ruộng trải rộng khắp vùng. Một trong những ruộng nho ấy đang đón phi cơ của Linh cắm thẳng xuống. Đường băng cách đó hai cây số.
Mắt Linh mất biểu cảm. Cặp mắt nhìn bên ngoài, nhìn vào trong, rồi dán chặt vào đống thiết bị. Thầy Jack nhìn Linh, hốc mũi ông sâu hoắm. Trường này đồn, cặp mũi ấy ngửi được đủ loại mùi trên đời.
"Tôi thề không để gia đình tôi bay chuyến anh lái", ông thầy phán.
Rồi phê. "Không thể bay thiết bị".
Linh học lại. Đóng tiền học lại. Bộn tiền, vì học bay không rẻ.
Lần hai rớt. Lần ba rớt. Lần bốn, lần năm rớt.
Chuyển trường. Học lại. Thi lại.
Cũng rớt.
Linh về.
Về nước nhưng không về nhà.
Hai tháng đầu thuê phòng trọ, anh đứng từ xa nhìn về nhà mình, nhiều lần mỗi ngày, nhiều giờ mỗi lần. Đôi lúc, canh mọi người đi hết, anh đến trước cửa để nhìn cho gần. Montpellier hiện về. Chiều đông. Trạm xe buýt. Trời khô. Gió lạnh. "Mẹ tao biết, bả chết", Linh nói mỗi khi bạn bè giục anh về.
Đứa con hoang đàng rồi cũng về. Mẹ anh không chết, nhưng sang chấn, cái nhà đã cầm cho Linh đi học. Gia đình anh dọn ra ở một chung cư ngoại ô.
Linh trở thành thợ gọi, gọi gì làm nấy, gọi đâu đi đấy. Khách hàng chủ yếu là đám bạn học cũ đã thành phi công. Họ bắt đầu an cư lạc nghiệp, lập gia đình, xây nhà, sinh con, có cái để gọi Linh làm qua ngày. Trà dư tửu hậu, hỏi, mày còn muốn đi học lại không, anh em giúp. Không. Có muốn vào hãng làm tiếp viên không, anh em gửi. Không. Vậy mày định làm gì. Im lặng. Thợ gọi hoài sao. Đứng dậy, tay đút túi. Tao về.
Linh thường đưa đón. Vài năm đầu là gia đình bạn. Đứa nào cũng có con đi học, vợ đi chợ, bố mẹ lâu lâu đi xem mảnh đất. Được vài năm, Linh bắt đầu đưa rước chính những đứa bạn mình.
Đi viện.
Bay, mười người hết chín đau lưng. Ngồi quá nhiều, hoạt động quá ít, ai cũng bắt đầu lệch đốt sống lưng thoái hóa vai cổ gáy. Linh đưa bạn đi khám chữa. Rồi vật lý trị liệu. Bị cái này, phải tập, tập thì phải đều, tuần ba lần, tháng này sang tháng khác. Dần dà, Linh trở thành tài xế toàn thời gian. Đưa đón đám bạn, rồi đồng nghiệp của bạn, đi chữa lưng.

Tranh: Kim Duẩn
Một ngày, sau cuốc xe thứ tư chở người đến viện, ngồi trên băng đá nhìn vào phòng trị liệu, Linh nảy ra một ý. Chín trên mười phi công đau lưng, mình mà biết nghề, chắc không thiếu việc. Linh đứng dậy vào văn phòng hỏi. Có. Kỹ thuật viên vật lý trị liệu. Học sáu tháng. Tốt nghiệp bao có việc.
Học phí bằng một năm lương thợ gọi.
Tiền quá lớn. Chưa kể sáu tháng không đi làm. Linh quay bước ra, dặn mình quên cái ý tưởng ấy, nhưng tối ngủ nó vẫn đeo anh. Sáng, thợ gọi chở bạn đi tập rồi sang văn phòng đăng ký.
Linh học hết khóa, bạn bè là những khách đầu tiên. Họ tặc lưỡi, cái chính là ủng hộ gà nhà, nhưng sau, chuyển hẳn sang tập với Linh. Bằng một cách nào đó, Linh cảm nhận được cơn đau của người lái máy bay. Tay chạm vào da, mắt anh tuy nhắm, vẫn như nhìn xuyên qua được, thấy rõ chỗ nào lệch chỗ nào xiên chỗ nào tắc.
Linh học thêm. Xoa bóp. Bấm huyệt. Giãn cơ. Châm cứu. Xung điện. Yoga. Vừa ra nghề, Linh kín lịch từ đầu ngày đến cuối ngày. Sau một thời gian, muốn gặp anh phải đặt trước. Bệnh nhân không còn gói gọn trong vòng bạn bè. Nhiều người từ nhiều nơi mộ tiếng. Đốt xương thoát vị của họ cần bàn tay Linh. Tay ấy giờ to khỏe gấp đôi ngày trước, nhưng nắm bẻ miết vẫn nhẹ nhàng như kiss landing.
Một năm sau, bệnh viện lớn trải thảm mời. Hai năm kế, Linh ra riêng. Vài năm nữa, anh mở cơ sở hai. Cơ sở ba, cơ sở bốn.
Trong nước, rồi ngoài nước.
"Chà… câu chuyện truyền cảm hứng", tôi gật gù. Khói xì gà hảo hạng bay qua. Hương gỗ quyện mùi gió biển.
"Captain nói quá. Đâu có gì", anh Linh đáp.
Bữa tiệc này, bệnh viện anh tổ chức. Lâu lâu chủ tịch Linh mới có mặt ở chi nhánh thành phố tôi sống. Anh đến làm việc, họp hành rồi tranh thủ diện kiến khách hàng thân thiết. (Đúng, cả tôi nữa, tôi cũng không thoát đại dịch đau lưng). Việc xong, anh lên đường thăm chi nhánh khác. Từ khi công ty thành tập đoàn, chủ tịch chỉ vòng quanh thế giới gặp gỡ.
"Chuyện vậy mà tôi chưa từng được nghe", tôi thắc mắc.
"Tôi có kể bao giờ. Họa hoằn
gặp được anh em phi công, ôn lại cho đỡ nhớ"
"Chuyện anh xứng đáng được biết nhiều hơn, tôi nói nghiêm túc"
"Ôi, xin đừng nói như vậy"
Phục vụ đi qua. Ông chủ tiệc đổi rượu, một loại vang bốn mươi năm. Chạm ly, ông chúc tôi sức khỏe. Tôi nhất thời chưa biết chúc ông điều gì.
"Thiên hạ người ta muốn biết cái khác, captain. Đảo, đất, du thuyền, bồ bịch của tôi. Khà khà. Hay cổ phần cổ tức mấy cái phòng tập."
"Phòng tập là sao? Anh gây dựng cả một đế chế!"
"Tôi may mắn thôi, captain!"
"Anh lại khiêm tốn"
"Nói đúng ra, tôi làm gì cũng suôn sẻ, dân làm ăn gọi là gặp thời"
May mắn và gặp thời, khác hay giống nhau. Tôi ngẫm nghĩ. Những khái niệm kiểu này luôn làm tôi phân vân.
"Thôi, gì cũng được", tôi kết. "Nhưng chắc một điều: Đời này, không có gì cản được việc anh thành công rực rỡ".
Linh im lặng. Anh đưa mắt xuống bãi cỏ, hướng nhìn chênh chếch. Vài cọng tóc từ mái đầu đen mướt gọn ghẽ rũ xuống. Tay xoay ly rượu, tay đút túi.
"Có đó, captain. Bay thiết bị".
Hóa ra, truyện ngắn ấy không chết. Nó hiển hiện. Sờ sờ trước mắt tôi.
Monsieur Somerset Maugham, tôi khẽ gọi.
Không có trả lời.
Ta đã giành lại được truyện ấy. Monsieur Maugham, chúng ta đã chiến thắng tư bản chủ nghĩa.
Nhạc rộn lên. Tiệc gọi tên chủ nhân. Ông cáo từ, quay gót tiến về sân khấu. Tiếng vỗ tay tán tụng. Tôi nhìn theo. Tấm lưng vuông vức, bộ vest trang nhã, bước đi khỏe khoắn. Trước mắt tôi, người đàn ông vượt qua nghịch cảnh vươn lên thành đạt.
Vậy thì ai chiến thắng ai.
Vẫn không có lời đáp. Somerset Maugham chắc chẳng bận tâm. ■