Những ốc đảo đô thị

NGUYỄN THU QUỲNH
17/07/2026 10:16 GMT+7

TTCT - Những không gian đi từ mở sang đóng dần, những không gian nén cao tầng xây lên, những khu đô thị mới chia ô chia lô, người làng quê vào phố từ bỏ dần những cộng đồng bền chặt.

Một nghiên cứu gần đây, sử dụng dữ liệu PAPI giai đoạn 2017-2020, cho thấy sự gắn kết cộng đồng có vai trò như một hàng rào tự nhiên, giúp hạn chế hành vi lệch chuẩn, các dạng "tội phạm vặt" (xả rác, vẽ bậy lên tường, gây gổ, đánh nhau…) trong quá trình đô thị hóa. 

Cảm giác "thuộc về một tập thể" khiến mỗi người có xu hướng tự điều chỉnh hành vi để không phá vỡ các chuẩn mực chung. Nỗi sợ "mất mặt" với làng xóm láng giềng chính là một hình thức kiểm soát phi chính thức của cộng đồng, dần mất đi khi ta bước vào đô thị.

 - Ảnh 1.

Một cao ốc tại TP Hồ Chí Minh (Ảnh: Hoàng Việt, tháng 2-2026)

Tôi chỉ biết tin một người hàng xóm qua đời khi ban quản lý đăng tin chia buồn lên nhóm Zalo chung của tòa nhà. Nhìn ảnh chị tôi chỉ thấy quen quen, cảm giác từng gặp chị trong thang máy hay đâu đó. Chúng tôi cùng sống trong một tòa nhà, không gian nén lại trong diện tích chưa bằng một cái sân bóng đá, hàng nghìn gương mặt, chung thang máy, chung sảnh, chung sân chơi, nhưng chưa từng biết về nhau, chưa từng hiểu niềm vui nỗi buồn của nhau.

 Những không gian đô thị bó chặt đời mình

Từ khoảnh khắc ấy, tôi nhìn lại những không gian đời mình đã qua và nhận ra từ ngày rời quê ra phố, mỗi quãng thời gian đời mình lại thu hẹp sâu thêm. 

Từ ngôi nhà đi thuê ở một cái làng truyền thống làm bún thuở ban đầu, đến khu tập thể của công nhân xây dựng từ thời bao cấp với những căn nhà ống cũ rích, cơi nới chuồng cọp hoặc xây mới trên nền hai ba chục mét vuông được phân từ những năm 1980, đầu làng cuối ngõ ai cũng quen nhau, mỗi buổi chiều lại nghe mùi bếp than tổ ong – cái mùi của cả một thời gian khó, tiếng chuyện trò rôm rả, đón hộ đứa cháu, trông hộ con chạy ù ra chợ, đi chợ mua giùm bó rau tý hành, nhà ai có người ốm cả khu hỏi thăm. 

Ngay cả khi tôi dọn lên một khối nhà tập thể kiểu mới, lai giữa chung cư và tập thể, mỗi tòa chỉ 6 tầng, vẫn đủ cởi mở để thân thiết giữa các nhà cùng tòa, xuống sân tập thể nhỏ nhỏ vừa đủ để nhìn nhau cười chào. 

Rồi đến nơi hiện nay, một căn hộ chung cư cao tầng, những căn hộ im ỉm đóng, tôi chưa từng biết đến những người ở tầng trên hay tầng dưới, thậm chí trong cùng một tầng.

Nhưng trong 20 năm dịch chuyển đó, tôi cũng giống như bao người trong thành phố này, va đập trong những không gian khác nhau, những không gian đi từ mở sang đóng dần, cũng từng ấy năm phố thị mở rộng, những không gian nén cao tầng xây lên, những khu đô thị mới chia ô chia lô, người làng quê vào phố cũng từ bỏ dần những cộng đồng bền chặt, những gương mặt thân quen.

Hà Nội là nơi giúp chúng ta quan sát kỹ những không gian này, nhờ vào những làng những ngõ xen kẽ các khu chung cư mới. Nhìn từ trên những tòa chung cư kín mít xuống làng bên cạnh, thấy ngay một bên là không gian cộng cảm, tình làng nghĩa xóm, có những bà cụ ngồi chuyện trò như nắm cả nghìn năm lịch sử làng, biết cả họ hàng dây mơ rễ má của người làng, biết ai mới dọn đến; với một bên là những chiếc hộp diêm đô thị, của những người không có bất kỳ một mối dây gắn kết nào từ trước, của những khối bê tông không lịch sử, không ký ức.

Không có ký ức chung, không qua dâu bể đời nối đời, người nối người, tấm lòng nối tấm lòng, chúng ta cô đơn biết chừng nào. 

Cộng đồng không được xây bằng bê tông mà bằng ký ức chung. Ký ức chính là thứ hồ vô hình gắn người với người. Khi lớp hồ ấy mất đi, những khối bê tông càng lớn càng dễ trở thành nơi chứa những cá nhân cô độc. Tôi không bao giờ quên ánh mắt bà cụ hàng xóm, lưng còng thấp, chống gậy sang thắp hương cho bố tôi ngày ông mất và kể "Tao đỡ đẻ cho bà nội mày. Ngày bé bố mày… rồi lớn lên…".

Sinh ra và lớn lên trong những hộp diêm đô thị, tiện lợi hơn và riêng tư hơn nhưng hoàn toàn không có không gian cộng cảm ấy, không có cộng đồng chung, câu chuyện chung, ký ức chung nào để bén rễ, để thấu hiểu... là ta đã bước vào một giai đoạn mới, hoàn toàn khác đi, đối nghịch với truyền thống khởi thủy từ khi có cộng đồng, có văn hóa.

Những ốc đảo đô thị - Ảnh 1.

Ảnh minh họa: scientificamerican

         Nghìn năm gắn bó đang dần tan ra

Hàng triệu người Việt đã trải qua một cuộc di cư âm thầm trong mấy thập niên ngắn ngủi. Không chỉ chuyển nhà, chúng ta đã bị bứng khỏi không gian xã hội, bộ rễ xã hội từng nuôi dưỡng mình - họ hàng, làng xóm, bạn bè tuổi thơ, những người biết tên mình từ khi mới sinh.

Môi trường sống quá đông đúc, luôn phải vội vã căng thẳng nhưng hoàn toàn thiếu đi các tương tác xã hội đẩy chúng ta vào tình trạng cô đơn và căng thẳng. 

Thế giới cũng thế, nguy cơ bị trầm cảm và bệnh rối loạn lo âu của người dân ở các thành phố lớn cao hơn nông thôn tới 20%. Ai sinh ra ở thành phố lớn, cả thời thơ ấu ở đó thì nguy cơ bị chứng hoang tưởng và suy nghĩ rối loạn cao hơn 77%.

Một nghiên cứu nổi tiếng đăng trên Nature, kết luận: hoạt động của Amygdala - hạch hạnh nhân trong não, nơi kiểm soát và điều khiển nỗi lo sợ và tính nóng nảy, của người thành phố tăng vọt khi có sự căng thẳng xã hội so với người ở nông thôn. 

Có lẽ phía sau những tín hiệu điện thần kinh ấy là điều mà ai ở đô thị đều cảm thấy: cảm giác bao quanh rất nhiều người nhưng vẫn cô đơn. Những đoàn người rồng rắn rời thành phố tìm về quê, tìm về nơi chốn bình yên mỗi dịp nghỉ lễ đủ xác nhận thêm cho nghiên cứu ấy. 

Thành phố nuôi dưỡng chúng ta, cho chúng ta cơ hội học tập, việc làm, nhưng cũng khiến chúng ta căng thẳng hơn, cô đơn hơn. Về quê, chỉ dăm ba ngày tết âm lịch, vài ngày nghỉ lễ khác trong năm mà những người xa quê nôn nao trong ruột từ mấy ngày, rộn ràng từ cả tuần trước. Trái ngược với thành phố ồn ào hối hả, nơi triệu khuôn mặt vô danh lướt qua nhau, tạo cảm giác không ngừng nghỉ và khắc nghiệt, quê nhà nghĩa là bình yên, là gắn bó không lý giải được bằng lời.

Phần lớn trong hai, ba chục triệu người sống ở Sài Gòn, Hà Nội đều từ các tỉnh về. Việc bứt rễ khỏi không gian thân thuộc để bước vào một không gian xa lạ gây ra nỗi chống chếnh ấy. Quy mô rộng lớn của thành phố, lồng kính hiện đại của các tòa nhà cao tầng, nhịp độ công việc căng thẳng, nhất là tương tác mạng xã hội lướt qua màn hình điện thoại triền miên mỗi ngày càng khiến người thành phố mất đi cơ hội, thời gian để thấu hiểu nhau và thấu hiểu chính mình.

Mối dây bền chặt mất đi, với dân xã hội học, là vốn xã hội, vốn văn hóa cũng mai một dần. Và nó còn làm cho xã hội có nguy cơ lệch chuẩn. 

Một nghiên cứu gần đây, sử dụng dữ liệu PAPI giai đoạn 2017-2020, cho thấy sự gắn kết cộng đồng có vai trò như một hàng rào tự nhiên, giúp hạn chế hành vi lệch chuẩn, các dạng "tội phạm vặt" (xả rác, vẽ bậy lên tường, gây gổ, đánh nhau…) trong quá trình đô thị hóa. 

Cảm giác "thuộc về một tập thể" khiến mỗi người có xu hướng tự điều chỉnh hành vi để không phá vỡ các chuẩn mực chung. Nỗi sợ "mất mặt" với làng xóm láng giềng chính là một hình thức kiểm soát phi chính thức của cộng đồng, dần mất đi khi ta bước vào đô thị. 

Khi không có đủ thời gian và động lực để xây dựng các mối quan hệ gắn kết với hàng xóm giống như trong các không gian làng xã truyền thống quen biết nhau qua nhiều thế hệ khiến chúng ta lạnh lùng hơn, dễ lệch chuẩn hơn. 

Chưa kể, hạn chế tiếp xúc trực tiếp, chỉ còn liên lạc qua mạng xã hội, dễ "ẩn danh" hơn, còn khiến xóa mờ danh tính và lòng nhân bản, khiến chúng ta dễ phán xét, dễ bẳn gắt, dễ đối đầu, hùng hổ với nhau trên không gian mạng hơn.

              Những người trẻ sẽ bám rễ vào đâu?

Thế hệ của chúng tôi ít nhiều còn mang theo ký ức về một cộng đồng, về làng mình, về một con ngõ, một khu tập thể, một nơi mà người ta biết tên nhau, nhớ chuyện của nhau và chia sẻ với nhau những biến cố của cuộc đời. 

Những đứa trẻ hoàn toàn sinh ra và lớn lên ở đô thị với vùng hạch hạnh nhân dễ căng thẳng hơn, dễ trầm cảm hơn, ít quan tâm đến cộng đồng xung quanh, và bước vào một thế kỷ mới -thế giới số - thế kỷ cô đơn - ít trò chuyện trực tiếp, rồi sẽ ra sao?

Trong Báo cáo "Nghiên cứu Thế hệ trẻ Việt Nam" do Hội đồng Anh công bố năm 2020, những người trẻ cho biết mình thấy ít gắn kết với cộng đồng nơi ở, nhất là khi so sánh với cha mẹ và ông bà, cảm nhận rằng những mối quan hệ cộng đồng như quan hệ hàng xóm đã suy yếu và lỏng lẻo hơn thế hệ trước. Các em sống ở khu vực thành thị và ven đô cảm nhận được xu hướng này rõ rệt hơn so với các em đang sống nông thôn.

Vì thế, xây dựng cộng đồng, gắn bó với nơi chốn mình đang sống không chỉ là câu chuyện của từng gia đình, đó là một vấn đề quan trọng trong thiết kế đô thị. Một công viên nhỏ, một thư viện, một sân chơi, một đình làng được giữ lại giữa khu đô thị mới đều có thể trở thành nơi con người gặp nhau, quen nhau và tạo ra những ký ức chung mới.

Với mỗi gia đình, những bữa cơm ăn cùng nhau, những câu chuyện "ngày xửa ngày xưa" người lớn kể cho trẻ, nghe những câu chuyện "ngày nảy ngày nay" trẻ kể lại, thời gian bên nhau, thêm thời gian ngoài thiên nhiên cũng có thể giúp con người lấy được những khoảnh khắc cân bằng.

Ở quy mô đô thị, nó đòi hỏi các thành phố phải tìm cách thiết kế và nuôi dưỡng các cộng đồng mới, thay vì chỉ xây được những căn hộ để ở. Các khu chung cư hiện nay vẫn có khoảng trống lớn trong việc xây dựng các mối cố kết cộng đồng. 

Chúng ta đã quen với việc quản lý vận hành, quản lý an ninh, quản trị tài sản chung chứ chưa nhằm kiến tạo một cộng đồng chung, tạo ra những hoạt động chung, những không gian chung và những câu chuyện chung. Trong khi chính những thứ ấy mới là nền móng của vốn xã hội, giúp con người tôn trọng nhau hơn, cảm thông với nhau hơn.

Con người vốn là sinh vật xã hội. Phần lớn lịch sử của loài người là cuộc sống trong những nhóm nhỏ gắn bó, nơi mọi người biết nhau, phụ thuộc vào nhau và chia sẻ ký ức chung. Vì thế thách thức của đô thị trong thế kỷ cô đơn này không chỉ là xây thêm nhà cho hàng triệu người, mà còn là tìm cách bắc lại những cây cầu giữa những "ốc đảo đô thị" đang ngày càng mọc lên san sát.

Mấy hôm nay, tôi vẫn nghĩ về người hàng xóm đã qua đời, sau mới nhớ ra đã từng gặp chị ở sảnh, trong một lần chờ xe đón, ngoài trời đổ mưa rào. Chị sống cách tôi có vài chục mét, gần hơn bất kỳ người họ hàng nào ở quê... ■