Âm nhạc không chỉ dành cho đôi tai 

  • ELIZABETH HELLMUTH MARGULIS
  • 11.12.2017, 15:17

TTCT - Chúng ta không chỉ nghe thấy nhạc. Trải nghiệm âm nhạc của chúng ta bão hòa trong các kỳ vọng văn hóa, ký ức cá nhân và nhu cầu được di chuyển.

mh

Ngày nay, dễ nghĩ về âm nhạc chỉ đơn giản là một chuỗi âm thanh - được ghi âm và mã hóa vào một stream trên Spotify, thế nhưng âm nhạc vẫn là một hiện tượng âm thanh mà chúng ta đáp lại vì cách nó xảy ra. Nguồn gốc sức mạnh của âm nhạc, theo cách diễn đạt này, nằm ở chính các nốt nhạc.

Muốn phân tích cách âm nhạc ảnh hưởng chúng ta cũng là phân tích các nốt nhạc và phản ứng của chúng ta: nốt nhạc bước vào, cảm nhận của ta về nó chộn rộn bước ra. Phép mầu của bản Hallelujah mà Leonard Cohen sáng tác hoạt động thế nào? Đơn giản thôi: quãng 4, quãng 5, điệu thứ trầm, điệu trưởng cao... (trích lời bài hát).

Môn thể thao phối hợp

Tuy nhiên nghĩ về âm nhạc theo cách này - nghĩa là theo âm thanh, nốt nhạc và cách ta ứng đáp với các nốt nhạc, tách biệt khỏi phần còn lại của trải nghiệm sống - đã đem âm nhạc vào một bầu không khí cầu kỳ, khó hiểu.

Suy cho cùng, các nốt nhạc là những âm thanh mà hầu hết con người cảm thấy bất an mỗi khi ta phải xướng lên hoặc mỗi khi đọc từ nhạc phổ. Cảnh tượng một máy đọc nốt trơ trọi trong não, ghi nhận âm thanh vào và sản xuất ra các cảm nhận về âm nhạc, ký thác âm nhạc thành một thứ lò chứa trong đầu không hơn.

Nhưng làm thế nào một thứ hiếm hoi bằng ấy lại tạo ra những cảm xúc và ký ức mãnh liệt với nhiều người trong chúng ta đến vậy?

Thực tế, công trình tiến hành nhiều thập kỷ qua trong ngành khoa học nhận thức về âm nhạc đã cho thấy ngày một thuyết phục hơn, cảm thụ âm nhạc bện chặt với các hệ thống tri giác khác, khiến cho âm nhạc không chỉ là một chuỗi các nốt nhạc đơn thuần - địa hạt của các nhà lý thuyết và nhạc công chuyên nghiệp - mà gần hơn với một trải nghiệm thiết yếu của con người.

Việc chụp não cho ta một bức tranh đặc biệt rõ nét về sự tương kết này. Khi con người nghe nhạc, không chỉ một trung khu âm nhạc đơn nhất lóe sáng.

Trái lại, cả một hệ thống được phân bổ rộng đều được kích hoạt, bao gồm những khu vực gắn với thị giác, khu vực kiểm soát cử động tay chân, cảm giác, lời nói, ký ức và cả khu vực đưa ra các hoạch định.

Quá trình nghe nhạc kích ứng một loạt khả năng đa dạng, minh chứng rõ nét cảm nhận âm nhạc luôn gắn quyện với các khía cạnh khác trong trải nghiệm của con người. Không chỉ là những gì ta nghe thấy, nhìn thấy hay kỳ vọng, cách ta đi đứng và toàn thể những trải nghiệm của ta, tất cả đều góp vào cách ta cảm nhận về âm nhạc.

Khi nhắm mắt lại, ta có thể hình dung ra một buổi trình diễn âm nhạc hết sức sống động: ta có thể nhìn thấy, chẳng hạn, một cái miệng mở rộng, một tấm thân lắc lư, những cánh tay hẩy cây guitar vào không trung.

Một khi đã bắt đầu hình dung ra hình ảnh sống động này, rất dễ bắt đầu nghe thấy các âm thanh mà nó tạo ra. Thực tế là khó có thể hình dung các cử động kia mà lại bỏ qua không tưởng tượng nốt phần âm thanh của nó.

Hoặc ta có thể quan sát - tắt đi âm lượng - hai tiết mục biểu diễn của cùng một bản sonata cho dương cầm trên YouTube, một do một nghệ sĩ thể hiện bằng các cử chỉ khoa trương và biểu đạt bằng nét mặt, và một do một nghệ sĩ miệng khép, ngồi cứng nhắc và bất động cạnh phím.

Dù thông tin duy nhất mà ta nhận được chỉ là hình ảnh, ta sẽ hình dung hai âm thanh rất khác nhau: từ nghệ sĩ thứ nhất, những dòng uyển chuyển giữa các cao độ và nhịp tấu, còn ở nghệ sĩ thứ hai, các hòa âm trực diện và không có biến tấu xảy ra.

Dữ kiện hình ảnh có thật sự ảnh hưởng đến cảm nhận nhạc thanh, và góp đáng kể vào trải nghiệm thưởng thức chung của một tiết mục biểu diễn hay không? Nhiều nghiên cứu đã cố gắng giải đáp câu hỏi này.

Nhà tâm lý học Bradley Vines ở ĐH McGill, Canada, cùng cộng sự đã ghi hình lại các tiết mục biểu diễn chủ đích sẽ giàu diễn cảm cũng như các tiết mục “khô như ngói” mà các nghệ sĩ được thông báo sẽ biểu diễn với càng ít biểu cảm càng tốt.

Sau đó, họ đem các bản thu này đến những người tham gia thí nghiệm, hoặc cho họ xem hình không có tiếng, hoặc chỉ mở phần tiếng không kèm hình, hoặc mở trọn toàn bộ phần ghi hình, hoặc lén lút tráo phần âm thanh và hình ảnh với nhau.

Kết quả là những người tham gia thí nghiệm có khuynh hướng mô tả rằng phần trình diễn có hình ảnh biểu cảm là biểu cảm và gợi cảm hơn bản thu của tiết mục được tấu. Trong một thí nghiệm khác, nhà tâm lý học Chia-Jung Tsay của University College London cho thấy người ta dự đoán chính xác hơn những ứng viên sẽ chiến thắng trong các cuộc tranh tài âm nhạc khi xem video ghi âm tiết mục biểu diễn không có tiếng, hơn là khi thưởng thức tiết mục diễn sống hoặc khi xem video có mở tiếng.

mh

Trải nghiệm văn hóa - kẻ chỉ huy giấu mặt

Dường như âm nhạc là một hiện tượng đa phương thức tiếp nhận. Những chuyển động của nghệ sĩ tạo ra âm thanh đóng góp một cách trọng tâm vào trải nghiệm nghe - và phần thông tin hình ảnh đôi khi còn ảnh hưởng mạnh mẽ hơn chính phần âm thanh.

Một trải nghiệm âm nhạc không chỉ là một báo hiệu âm - thị giác. Có thể chúng ta tìm nghe một ban nhạc mới vì bạn thân giới thiệu, hay vì muốn làm đẹp lòng cha mẹ.

Có thể chúng ta thưởng thức một buổi hòa nhạc trong một khán phòng lộng lẫy cùng khán giả bóng bẩy, hoặc có thể ta bén chân vào một địa điểm lẻ quạnh với một nhúm những chàng và nàng nom chán bỏ xừ đi được, tất cả đều tránh càng xa sân khấu càng tốt.

Các tình huống này gợi ra những kỳ vọng khác biệt rất rõ ràng. Thông tin và những giả định mang theo đến buổi hòa nhạc có thể hoặc quyết định đó là một trải nghiệm đáng nhớ hay thảm bại trước khi nốt nhạc ngân lên.

Joshua Bell là một nghệ sĩ vĩ cầm ngôi sao trình diễn tại các khán phòng hòa nhạc lớn nhất thế giới. Người ta dốc ra hơn 100 USD để mua vé xem ông biểu diễn. Mọi thứ về bối cảnh của một buổi hòa nhạc điển hình ngụ ý rằng âm nhạc của ông xứng đáng thế nào với sự quan tâm của khán giả: các không gian rộng lớn với trần cao vút, sự yên ắng của hàng ngàn khán thính giả, tầm cao của sân khấu.

Năm 2007, một phóng viên tờ The Washington Post nảy ra ý về một thí nghiệm xã hội: chuyện gì sẽ xảy ra nếu nghệ sĩ tầm cỡ quốc tế này trình diễn một cách vô danh ở ga tàu điện ngầm? Chắc chắn sự tinh kỳ của âm thanh tạo ra sẽ bức người dân thành phố ra khỏi thói quen buổi sáng để hòa vào một trải nghiệm thưởng thức khoa trương.

Trái lại, suốt 35 phút biểu diễn tác phẩm của Bach, chỉ vỏn vẹn bảy người dừng lại ở những quãng thời gian khác nhau (một người duy nhất nhận ra đó là Joshua Bell).

Người qua đường để lại tổng cộng 32 USD, và sau khi nốt nhạc cuối cùng vang lên, không hề có lấy một tiếng vỗ tay - chỉ có tiếng hối hả liên miên của những con người đang tranh thủ đến toa xe.

Các bình luận đã diễn giải giai thoại này biểu đạt nhiều điều khác nhau: sức ép thời gian của cư dân thành thị, sức mạnh của sinh nhai làm lu mờ những khoảnh khắc có thể mang lại nhiều ý nghĩa, hay sự quý báu của tuổi thơ (nhiều trẻ em dừng lại để nghe, để rồi bị cha mẹ hối rời đi).

Nhưng quan trọng không kém là nó cho thấy sức mạnh vô song của tiếng đàn vĩ cầm Bell tấu không nằm độc nhất ở các âm thanh mà ông tạo ra.

Không có dấu chỉ, dù cụ thể hay khơi gợi chuẩn bị để người nghe có trải nghiệm thẩm mỹ cho là có tính chất quan trọng, họ không kích hoạt những bộ lọc cần thiết để hấp thu những nét âm thanh mà trong các tình huống khác có thể đã dẫn đến các trải nghiệm thưởng thức tuyệt vời.

Kể cả trình độ diễn tấu ở mức thượng thừa cũng nằm dưới và phụ thuộc những ảnh hưởng định hình này. Âm thanh không thôi vẫn chưa đủ.

Các nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng vai trò quan trọng của ngữ cảnh đối với thưởng thức âm nhạc. Vào năm 2016, với đồng nghiệp Carolyn Kroger tại ĐH Arkansas, tôi đã mời người tham gia đến xem nhiều cặp tiết mục biểu diễn thuộc cùng một trích đoạn, nhưng mách trước với họ một tiết mục do một nghệ sĩ dương cầm lừng danh thế giới biểu diễn, tiết mục còn lại do một sinh viên nhạc viện: họ nhất nhất chuộng tiết mục biểu diễn chuyên nghiệp hơn.

Còn trong một nghiên cứu gần đây, chúng tôi nói với mọi người, mình có một thông tin đặc biệt về các trích đoạn âm nhạc mà họ sẽ thưởng thức: cụ thể là về ý định của nhà soạn nhạc khi sáng tác... Khi biết rằng đoạn trích được viết vì một lý do tích cực, người ta nghe thấy âm nhạc vui tươi hơn, còn khi biết đoạn trích viết ra trong một tình huống tiêu cực, họ thấy tác phẩm buồn hơn.

Nhạc đúng là có thể khiến cả một căn phòng nhảy nhót. Thậm chí những người ở các buổi hòa nhạc cổ điển, dẫu phản đối các cử động thái quá khi thưởng thức, đôi khi khó cưỡng cảm giác phải nhịp chân hay gõ ngón tay theo nhạc.

Quá trình chụp não đã chỉ ra trải nghiệm nghe nhạc thụ động có thể kích hoạt hệ thống điều khiển tay chân. Sự quấn bện giữa âm nhạc và chuyển động là một hiện tượng phổ biến và sâu sắc ở khắp các nền văn hóa trên thế giới.

Sự liên kết tương hỗ này đồng nghĩa với việc không chỉ những gì ta nghe thấy ảnh hưởng cách ta chuyển động, mà còn cho thấy cách ta di chuyển có thể ảnh hưởng đến cách ta nghe nhạc.

Âm nhạc không thể được hình dung thẳng thừng là một hiện tượng âm thanh, nó là một trải nghiệm đa thức, được mã hóa văn hóa.

Ở một thời điểm nào đó trong lịch sử khi khoa học thần kinh có thể có quyền năng gần như huyền nhiệm, ta cần ghi nhớ rằng chặng đường từ âm thanh đến trải nghiệm dệt xuyên qua hình ảnh, ký ức, chuyện kể, vận động và từ ngữ.

Bỏ qua phần ca từ, sức hút của bản Hallelujah của Leonard Cohen không phải đến trực tiếp từ quãng 4, quãng 5, điệu thứ trầm, điệu trưởng cao... mà các trải nghiệm về bài hát hiện tại dường như tô vẽ bằng sự tiếp xúc với hằng hà các bản cover, và việc nó xuất hiện dày đặc trong các bộ phim như Shrek.

Âm thanh ấy có thể mang theo hình ảnh một con chằn tinh xanh lá cây hay một ông cụ nhăn nheo đến từ Montreal (tức Leonard Cohen), hay các cảm giác đã trải qua từ một buổi hòa nhạc hàng nhiều thập kỷ trước.

Dù đôi khi được cho là một loại hình nghệ thuật trừu tượng, tương tự thế giới số học và toán học, âm nhạc mang theo nó và được hình thành nên từ gần như mọi khía cạnh khác nhau của trải nghiệm con người: cách chúng ta nói và đi đứng, cái chúng ta thấy và biết.

Quyền năng mãnh liệt của âm nhạc cuốn con người vào trong âm thanh của nó phụ thuộc rất lớn vào những gắn kết chặt chẽ giữa sự nghe với vô vàn cách thức cảm nhận và tìm hiểu.■

Du Lê (lược dịch, theo aeon.co)

(*) Trưởng phòng thí nghiệm nhận thức âm nhạc ĐH Arkansas, một dương cầm thủ được đào tạo để diễn cùng dàn nhạc, tác giả quyển On Repeat (tạm dịch: Đang bật chế độ nghe lại).

Vui lòng nhập nội dung bình luận.

Gửi