Giáo dục Việt Nam - kỳ cùng vẫn là thiếu sách

CÁT KHUÊ 20/11/2010 11:11 GMT+7

TTCT - 5 năm gần đây, bằng nhiều bản dịch - chú giải, dịch giả Bùi Văn Nam Sơn đã đưa hai tượng đài triết học của thế giới là Kant và Hegel đến gần người Việt hơn bao giờ hết. Ít người biết ở góc độ một người thầy, ông vẫn đang dành thời gian cho những học trò say mê triết mà ông gọi là thân hữu.

Nhà triết học Bùi Văn Nam Sơn - Ảnh: Gia Tiến

HỌC, ĐỪNG TỰ ÁI

* Những người may mắn được là học trò của ông nói rằng họ ngạc nhiên nhất là ông có khả năng chia sẻ những triết lý cao siêu nhất của triết học một cách giản dị để họ dễ nhập tâm. Đó là khả năng sư phạm của người thầy, hay ông đã “ngộ” được triết đến độ có thể nói ra một cách đơn giản?

- Triết học nghe thì mơ hồ vậy thôi nhưng thật ra đó là khoa học nên có tính chính xác, hệ thống và chặt chẽ. Khi mình tiếp cận một vấn đề hay một câu hỏi triết học thì phải hiểu nó như một vấn đề khoa học. Tất nhiên khi giảng triết tôi cũng tùy cơ ứng biến để làm sao người học có thể hiểu tùy theo trình độ của họ. 

Nhưng nên nhớ triết không phải là nghệ thuật hay kỹ thuật - nó có những đặc thù riêng, trừu tượng hơn, luôn luôn là giả định chứ chưa kết luận gì cả, cũng không có những công thức như khoa học. Và tính chính xác bất biến nội tại của nó khiến cho ai muốn nghiên cứu triết học cũng nên có một đầu óc tỉnh táo, sáng sủa. Tự do tư tưởng và sáng tạo là đương nhiên nhưng cần có kỷ luật, trật tự.

* Nhưng phải thừa nhận rằng có cả trăm người mê triết đi nữa thì rất ít người có thể trở thành triết gia. Trong số những người tìm đến triết học bên ông, chắc hẳn không hiếm người đang tìm một chìa khóa giải quyết cho sự bế tắc mà họ gặp phải trong cuộc sống?

- Cũng đúng. Triết học có hai, ba phương diện. Có phương diện thuộc về kiến thức cơ bản phổ quát cho tất cả mọi người. Hằng ngày mình nói ra rất nhiều khái niệm triết học một cách vô tình mà không biết đó là những thành tựu của triết học. Ai cũng cần biết, ai cũng cần hiểu và càng học triết thì càng có công cụ tư duy để suy nghĩ và làm việc, ứng phó với mọi chuyện trên đời này. 

Triết học còn có tính chất cân bằng khi cho người ta thấy trong cuộc sống có mặt này cũng có thể thấy mặt kia, có thể suy nghĩ rộng hơn kích thước bình thường. Đó chính là nhu cầu tìm một sự cân đối, yên bình, một hướng khai phóng cho nội tâm. Nhưng ngoài triết học cũng có thể tìm sự yên bình ở tôn giáo hoặc văn chương.

Phương diện thứ ba là phương diện chuyên môn rất cao, rất sâu dành cho những người chuyên sâu nghiên cứu, đó là triết học theo nghĩa đen, nghĩa hẹp, là môn khoa học triết học. Chọn phương diện nào là tùy ở sở nguyện và năng lực của mỗi người.

* Ông từng nói muốn suốt đời “làm người học trò” như trong vế đầu câu nói “Học nhi bất yếm, hối nhân bất quyện” (học không biết chán, dạy người chẳng mỏi) của Khổng Tử. Phải chăng đó là mong muốn khiêm tốn trong tình hình mà ngay việc muốn theo kịp thông tin về triết học trên thế giới có người bảo rằng cần đến mười ông Bùi Văn Nam Sơn?

- Tôi thành thật nghĩ rằng bản thân mình đang tụt hậu rất xa nên cần khiêm tốn học hỏi. Muốn vươn kịp trình độ của người ta thì phải hiểu người ta đã. Bấy giờ mới có hi vọng đối thoại bình đẳng với họ. Đừng vì sự tự ái muốn đi nhanh, đi tắt đón đầu mà bất chấp những quy luật rất khắt khe của khoa học. Chữ học đó không có nghĩa mãi mãi mình chịu kiếp đi sau, cũng không có nghĩa thụ động tiếp thu mà vẫn có thể từng bước trao đổi đối thoại. 

Nhưng sự thật là nhiều ngành trong nền khoa học nước ta còn thiếu nền tảng vững chắc. Ngô Bảo Châu là một trường hợp đặc biệt, trong một chuyên ngành đặc biệt. Không thể sốt ruột được.

BẢN THÂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC ĐÒI HỎI PHẢI PHẢN BIỆN

* Ở VN, đạo làm trò để ứng xử với thầy một cách lễ phép, kính trọng rất được đề cao. Nhưng điều đó phải chăng cũng là cản trở khiến học trò thiếu thói quen phản biện. Và sẽ không có nhiều sự bình đẳng để học trò dám tranh biện với thầy một cách tương đối ngang hàng vì có thể bị gán rằng trò đang “cãi” thầy?

- Đây là vấn đề rất lớn và tế nhị liên quan đến tâm lý và kỹ năng sư phạm. Bản thân việc đặt ra câu hỏi này đã cho thấy một cái nhìn định kiến rằng đương nhiên học sinh phải chủ động, phải phản biện. Nước nào cũng vậy thôi, việc đầu tiên phải hiểu rằng có gì trong đầu không mà đòi phản biện? Bao giờ cũng phải có một kỷ luật nhất định. 

Cái quan trọng nhất là tự thân cả một nền giáo dục có khuyến khích, khơi gợi được tinh thần tự do tìm tòi, đưa ra nhiều giả thiết khác nhau và biết không cố chấp hay không. Chính môi trường đó mới làm học trò có tinh thần đối thoại, thậm chí là phản biện. Còn trong một xã hội chưa nghiêm ngắn thì việc đòi đưa vào tinh thần phản biện nhiều khi chỉ gây ra một sự mất trật tự và kỷ luật mà thôi. 

Riêng đại học thì khác, bản thân giáo dục đòi hỏi phải phản biện, nếu không coi như đã thất bại.

* Nhưng việc người thầy với một chiếc micro để giảng bài cho trò chép cũng là một rào cản vô hình tước đi của sinh viên quyền được nói, được phản biện?

- Hoàn toàn đúng. Thực tế đây là cả một quá trình thế giới đã tìm đủ cách cải cách giáo dục để đào tạo được nhiều hơn những chuyên gia, những nhà trí thức. Có một thời kỳ ngay cả phương Tây cũng vậy, thầy đọc trò chép. Bởi người ta quan niệm rằng giảng đường đại học là nơi tiếp thu kiến thức của những bậc thầy truyền đạt bằng hình thức cổ điển là giảng bài, giảng giáo trình. Cái uy của ông thầy lớn lắm và sinh viên thấy mình xa thầy quá vì trình độ quá kém so với thầy. Thế nên tự động sinh viên không dám nói gì cả vì hiểu thầy thôi cũng đủ chết rồi! 

Nhưng khi bình diện thông tin mở rộng thì bản thân người học cũng khá lên, họ thấy những điều thầy giảng họ không cần phải nghe vì có thể đọc sách hoặc tìm trên Internet. Họ sẽ ngãng ra! Và bây giờ chỉ có những đại giáo sư nào tự tin rằng mình giảng sinh viên sẽ lắng nghe bởi giảng đường là nơi trình bày những học thuyết, phát minh của mình thì mới có can đảm giảng bài giữa giảng đường. Và bài giảng đó thật sự có giá trị, sinh viên ùn ùn đi nghe không ai dám mở miệng.

Ở trường đại học phương Tây, việc giảng bài chỉ chiếm khoảng 20%, 80% còn lại là kiểu seminar để sinh viên trao đổi cùng làm việc chung, cùng đọc, cùng thảo luận, cùng tìm tòi với nhau cũng như với thầy. Nghe thì hấp dẫn nhưng muốn làm được phải có sách, có văn bản để thầy và trò cùng làm việc. Phải có đủ phòng thí nghiệm để thầy và trò cùng thí nghiệm. Còn không có gì hết thì thầy đọc trò chép là đúng rồi!

* Đấy có phải lý do mà ông đã nhiều lần đau lòng thốt lên rằng môi trường tri thức cũng như giáo dục ở VN quá thiếu sách?

- Đúng hơn phải nói là không có sách! Sách nghiên cứu, sách giáo dục toàn tiếng nước ngoài làm sao đòi sinh viên hiểu được? Nước ngoài cũng thế thôi, sinh viên Mỹ làm sao đọc được tiếng Pháp nếu cuốn sách đó không được dịch sang tiếng Anh? Làm sao làm seminar cho sinh viên khi thiếu sách? Điều kiện vật chất rất quan trọng cho giáo dục. 

Hình thức seminar thành công ở phương Tây bởi họ đã có thời gian chuẩn bị sách rất kỹ. Học về tác giả nào cũng có sách để đọc, để nghiên cứu sâu hơn, cùng nhau đọc mới cùng nhau giải thích hoặc tranh cãi. Xu hướng chung của thế giới, mình không muốn bị lạc hậu phải chuẩn bị cơ sở vật chất chứ không phải chỉ nguyện vọng thấy phương Tây thực hiện 80% seminar trong giáo dục ta cũng bắt chước y như thế.

* Ông có nói ở phương Tây học sinh lớp 6 đã được hướng dẫn để biết cách học từ sách. Vậy nguyên do gì ở VN không có thói quen đó? Chúng ta cứ đổ lỗi cho các phương tiện giải trí khác lôi kéo các em khỏi sự say mê học tập. Nhưng ở phương Tây, việc giải trí phong phú hơn chứ?

- Đúng thế. Và học sinh VN bị nhồi nhét quá nhiều. Một nguyên tắc tối thiểu là các bài tập phải được giải quyết hết ở trường. Nếu các môn học ít lại, thời gian kết thúc bài học ở ngay trên lớp thì thầy cô mới có thể tập cho các em thói quen đọc sách. Điều này giúp các em có thói quen chủ động dù ngây ngô khi đọc rồi trình bày lại cho các bạn cùng nghe.

 Mà kỳ cùng vẫn là phải có sách. Vào một trường tiểu học hay trung học đi nữa thì điều đầu tiên phải được nhìn thấy là sách, là thư viện của trường. Đầu tư một lần như vậy đáng vô cùng mà không quá tầm tay, chỉ là đổi phương pháp sư phạm và có thể cải thiện được nhiều. 

Một sai lầm trong giáo dục có thể mất nhiều vô cùng mà không thấy, không như vụ Vinashin mất bao nhiêu tiền là thấy ngay... Thế nên học hỏi kinh nghiệm giáo dục từ các nước gần ta như Hàn Quốc hay Singapore sẽ tiết kiệm được nhiều lắm.

* Trân trọng cảm ơn ông.

Dịch giả Bùi Văn Nam Sơn sinh năm 1947 tại Duy Xuyên, Quảng Nam. Ông học triết ở Sài Gòn rồi tiếp tục học ở Đại học J. W. Goethe, Frankfurt/M, CHLB Đức, từng giảng dạy triết học ở Đức và hiện sống tại VN.

Các tác phẩm gần đây của Bùi Văn Nam Sơn (dịch - chú giải):

- Hai cuốn sách của G. W. F. Hegel: Bách khoa thư các khoa học triết học 1 và Các nguyên lý của triết học pháp quyền.

- Ba cuốn sách của Immanuel Kant: Phê phán lý tính thực hành, Phê phán năng lực phán đoán và Phê phán lý tính thuần túy (giải thưởng Tinh hoa giáo dục quốc tế 2006 của Quỹ dịch thuật Phan Châu Trinh).

 


Bình luận Xem thêm
Bình luận (0)
Xem thêm bình luận