Đạo diễn Duzan Duong: Làm phim để "thoát vòng" sang chấn

XUÂN TÙNG 07/05/2026 09:10 GMT+7

TTCT - Duzan Duong coi bộ phim điện ảnh đầu tay là "autofiction" (tự hư cấu), pha trộn những quan sát ngoại vi về cộng đồng người Việt tại Đông Âu và những tự sự cá nhân về sự đứt gãy trong giao tiếp trong gia đình.

Tuổi Trẻ Cuối Tháng trò chuyện với đạo diễn người Séc gốc Việt Duzan Duong về những suy tư, sang chấn và ẩn ức của người Việt tại châu Âu, cũng như những tham vọng đưa những nhân vật Việt thoát khỏi cái mác "thiểu số" để trở thành những hình tượng điện ảnh toàn cầu.

Liên hoan phim Châu Âu tại Việt Nam - Ảnh 1.

Đạo diễn người Séc gốc Việt Duzan Duong. Ảnh: Instagram nhân vật

Giữa hàng loạt tựa phim đình đám tham gia Liên hoan phim Châu Âu tại Việt Nam cuối năm ngoái, Trường hè, 2001 (Summer School, 2001) được chú ý bởi đây là bộ phim duy nhất nói tiếng Việt, với dàn diễn viên Việt.

Suất chiếu Trường hè, 2001 trong buổi khai mạc cháy vé từ sớm, với hơn 300 khán giả lấp đầy 2 tầng ghế ngồi lẫn bậc thang trong rạp chiếu lớn của Trung tâm chiếu phim quốc gia Hà Nội. 

Hình ảnh phim vừa thân thuộc với khán giả qua hình ảnh những tủ rượu ngâm, nem rán và những đêm karaoke, nhưng cũng phần nào lạ lẫm trong bối cảnh thành phố biên giới Cheb, Cộng hòa Séc những năm 1990, khi cuộc sống của cộng đồng người Việt nơi đây trải qua nhiều biến động.

Duzan Duong coi bộ phim điện ảnh đầu tay, cũng là tác phẩm đánh dấu cột mốc tuổi 35 của mình, là "autofiction" (tự hư cấu), pha trộn những quan sát ngoại vi về cộng đồng người Việt tại Đông Âu và những tự sự cá nhân về sự đứt gãy trong giao tiếp trong gia đình – cụ thể là mối quan hệ giữa cha và những người con trai trong thời ly tán.

Liên hoan phim Châu Âu tại Việt Nam - Ảnh 2.

Ảnh: IMDB

Cuối năm 2025, anh đã dành gần 4 tháng đưa Trường hè, 2001 đi quảng bá từ Karlovy Vary (Séc), sang Mỹ rồi về Việt Nam. Ở tuổi 35, cảm giác của anh khi nhìn thấy khán giả ở những nền văn hóa khác nhau cùng khóc, cùng cười với một câu chuyện đậm chất "Séc-Việt" là gì?

Đó là một hành trình đầy cảm hứng. Tại Liên hoan phim Karlovy Vary – liên hoan phim lớn nhất khu vực Đông Âu – buổi công chiếu thế giới đã diễn ra trong một đại sảnh 1.200 chỗ ngồi với những tràng pháo tay kéo dài.

Khi sang Mỹ, tôi nhận ra một điều thú vị: cộng đồng người Việt ở đó vốn đã quen với những bộ phim về vết thương chiến tranh, nên khi thấy một bộ phim về đời sống hiện đại của người Việt tại châu Âu, họ thấy tự hào vì sự hiện diện của mình được công nhận một cách mới mẻ.

Còn tại Việt Nam, con số 100 triệu dân thực sự là một thị trường khổng lồ mà tôi mơ ước. Ở Séc chỉ có 10 triệu dân, và việc có hơn 35.000 khán giả mua vé xem phim trong năm 2025 đã là một thành công.

Tôi hy vọng sự ủng hộ của khán giả quê nhà sẽ vượt qua con số đó, bởi đây là câu chuyện về chính chúng ta, dù nó được kể dưới bầu trời châu Âu.

Anh bắt đầu làm phim từ khi nào?

Tôi lớn lên tại Cheb - một thành phố biên giới giữa Séc và Đức, và thú thực, thuở nhỏ tôi chưa từng có ý định hay cảm giác mình sẽ trở thành nghệ sĩ. Mọi thứ chỉ bắt đầu vào năm 2012, khi tôi đam mê bộ môn nhảy popping và hip-hop. 

Thời điểm đó, điện thoại chưa có chức năng ghi hình tốt, nên tôi khao khát có thể tự quan sát những bước nhảy của chính mình. Khi đó, tôi tham gia đóng một vài mẩu quảng cáo với vai trò vũ công, được tận mắt thấy hậu trường làm phim và dùng chính số tiền cát-xê đó để mua chiếc máy ảnh đầu tiên.

Năm 2014, tôi nộp đơn vào khoa phim của Học viện nghệ thuật biểu diễn Prague trong lúc vẫn đang là sinh viên ngành kinh tế. Nhưng chỉ sau một học kỳ, tôi đã bị khoa phim đuổi học. Việc bị đuổi không làm tôi bỏ cuộc mà trái lại, nó tiếp thêm nhiên liệu để tôi nỗ lực hơn.

Sau hai dự án phim ngắn làm cùng bạn bè (thú vị là được chính trường phim đã đuổi học tôi tài trợ), tôi dành tiếp 8 năm làm đạo diễn hình ảnh (DOP) trong ngành quảng cáo để trang trải cuộc sống. 

Chính quãng thời gian 8 năm đó, dù bận rộn với công việc quay phim thương mại, tôi vẫn âm thầm ấp ủ và nhào nặn kịch bản cho Trường hè, 2001. Những kinh nghiệm tích lũy từ trường đời và các phim trường quảng cáo đã giúp tôi có mặt ở đây ngày hôm nay.

Trong phim có một cảnh rất ấn tượng: cả gia đình ngồi quây quần trong căn hộ nhỏ, tỉ mỉ ép những chiếc nhãn đồ hiệu vào những bộ quần áo rẻ tiền để bán ở chợ trời. Đó có phải là một lát cắt từ ký ức tuổi thơ của anh?

Đúng - đó là tuổi thơ của tôi ở Cheb. Bố tôi từng may quần jeans tại nhà và in logo các nhãn hiệu lớn lên đó để bán cho người Đức qua biên giới mua sắm. Chợ người Việt Dragoun ở Cheb chính là trung tâm cuộc sống của tất cả chúng tôi. 

Khi tái hiện bối cảnh này, chúng tôi đã phải lục tìm những bức ảnh gia đình cũ để dựng lại từng gian hàng cho thật chính xác. Thậm chí, đống quần áo đạo cụ sau khi quay xong còn được tôi tự tay ép logo phim lên để làm đồ lưu niệm cho đoàn.

Quãng thời gian ấy cực kì bấp bênh bởi cảnh sát Séc tăng cường truy bắt hàng giả, nhưng những đứa trẻ như tôi lúc ấy nhớ về chợ như một sân chơi chung, vui vầy và đầm ấm.

Đạo diễn Duzan Duong: Làm phim để "thoát vòng" sang chấn - Ảnh 3.

Cảnh trong phim Trường hè, 2001

Tại sao anh lại chọn thuật ngữ "autofiction" để mô tả bộ phim này?

Bởi câu chuyện phim là chuyện đời tôi, mà cũng không hẳn vậy. Nhân vật người cha được xây dựng một phần từ bố tôi, mà cũng là tổng hòa của những ông bố người Việt điển hình tại Đông Âu thời kỳ đó: nghiện rượu chè, bài bạc, giữ kín sự hy sinh thầm lặng và nỗi cô đơn của kẻ tha hương.

Câu chuyện người con bị gửi về Việt Nam 10 năm mới quay lại Séc cũng là một sang chấn chung của thế hệ tôi. Bản thân tôi cũng từng bị gửi về Việt Nam năm 6 tuổi, nhưng may mắn là bà vú người Séc đã thuyết phục bố mẹ đưa tôi quay lại sau 3 tháng. 

Tôi dùng những câu chuyện quan sát được từ cộng đồng để nhào nặn nên các nhân vật, sao cho bất kỳ người Việt nào ở hải ngoại khi xem cũng thấy một phần của mình trong đó.

Có thể nói bộ phim xoay quanh những thất bại trong giao tiếp giữa các thế hệ trong gia đình. Người cha lầm lũi làm việc, người con mang đầy phẫn nộ nhưng cả hai không bao giờ nói chuyện trực diện. Anh đang kể câu chuyện của chính mình?

Có thể nói là vậy. Trong các gia đình người Việt tại Séc, câu chuyện mở lòng thường không bao giờ diễn ra. Bố tôi từng là một người lính - ông mang nhiều ẩn ức và chưa bao giờ được dạy cách mở lòng, vì thế ông cũng không dạy tôi điều đó. Sự im lặng này giống như một loại lời nguyền truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Khoảnh khắc xúc động nhất đối với tôi không nằm trong phim, mà là sau buổi chiếu tại Karlovy Vary: bố đã ôm tôi lần đầu tiên trong đời. Ông không nói một lời nào, nhưng cái ôm đó đã thay thế cho tất cả những gì chúng tôi không thể nói bằng lời suốt 30 năm.

Tôi coi mỗi bài phỏng vấn như ngay lúc này, mỗi thước phim mình làm ra là một buổi trị liệu tâm lý miễn phí để giải tỏa những gánh nặng liên thế hệ mà mình đang giữ.

Liên hoan phim Châu Âu tại Việt Nam - Ảnh 4.

Ảnh: Elle Czech

Với Trường hè, 2001, tôi được biết anh chọn lối làm phim "freestyle", không sử dụng kịch bản phân cảnh (storyboard), cùng dàn diễn viên không chuyên. Tại sao lại có những lựa chọn này?

Tôi coi storyboard là một sự lãng phí tiền bạc. Tôi và giám đốc hình ảnh thường thiết kế cú máy ngay tại hiện trường dựa trên cảm nhận về không gian. Chúng tôi có thể quay đi quay lại một cảnh 20 lần cho đến khi đạt được độ "thực".

Dàn diễn viên của Trường hè cũng là những người không chuyên được tuyển chọn qua Facebook, bởi tôi muốn chọn được những chân dung chân thực nhất. Tôi thích làm việc với những người chưa từng đóng phim vì họ không có những thói quen xấu của người nổi tiếng. 

Chẳng hạn như nhân vật Tài – tôi đã tuyển chính cậu bé hàng xóm hay ngồi trông cửa hàng tạp hóa gia đình trong khu tôi sống. Sự tự nhiên của cậu bé là điều mà không trường lớp diễn xuất nào dạy được.

Đạo diễn Duzan Duong: Làm phim để "thoát vòng" sang chấn - Ảnh 5.

Ảnh trong phim Trường hè, 2001

Anh từng nhắc đến việc muốn đưa nhân vật Việt thoát khỏi cái mác "thiểu số" để trở thành những hình tượng điện ảnh toàn cầu. Anh có thể chia sẻ cụ thể hơn về tham vọng này?

Hãy nhìn cách người Hàn Quốc làm phim. Họ kể những câu chuyện rất Hàn nhưng cả thế giới đều mê mẩn vì tính phổ quát của nó - điển hình là Parasite đã chinh phục tượng vàng Oscar. Trong phim của mình, tôi không muốn xóa bỏ bản sắc Việt, nhưng tôi muốn nhân vật của mình trước hết phải là một "con người" với đầy đủ hỉ nộ ái ố, chứ không phải chỉ là một đại diện cho một sắc tộc hay một màu da.

Trong tương lai, tôi muốn làm những bộ phim nơi nhân vật Việt có thể tương tác bình đẳng với các nhân vật bản địa trong những câu chuyện mang tính toàn cầu: về công nghệ, về sự cô đơn hay về tương lai của nhân loại. Tôi muốn nâng tầm các nhân vật của mình lên thành những "hình tượng" (character) chứ không phải chỉ là "chủng tộc" (race).

Anh nghĩ gì về tương lai của cộng đồng người Việt tại Séc trong 10-20 năm tới?

Tôi nghĩ người Việt sẽ không hòa tan với châu Âu, mà sẽ "làm giàu" thêm cho xã hội Séc. Thế hệ người Việt thứ ba, thứ tư sẽ không còn phải vất vả ở chợ trời hay cửa hàng tạp hóa nữa, họ sẽ là các bác sĩ, kỹ sư, nghệ sĩ... Sự giao thoa giữa trí tuệ Việt và văn hóa châu Âu chính là chiếc chìa khóa mở ra những giá trị mới. 

Việc tôi làm phim có lẽ cũng là một nỗ lực phá vỡ vòng lặp của sự im lặng và sang chấn trong bản thân, để con trai tôi có thể lớn lên có thể ngẩng cao đầu tự hào về dòng máu chảy trong người mình.

Tiếp sau Trường hè, 2001 sẽ là gì?

Trước tiên, tôi và các cộng sự sẽ mang Trường hè, 2001 ra phân phối tại các rạp Việt Nam. Tôi đang phát triển một dự án anime về sự "xâm lấn" của công nghệ đối với thế hệ Gen Alpha – nhóm "bản địa số" đang chứng kiến đời sống trực tuyến nuốt chửng đời sống thực. Tôi cũng đang viết kịch bản cho một loạt phim hợp tuyển mang tên "Hành trình về phương Tây" (Journey to the West), kể về những người Việt đầu tiên đặt chân đến Tiệp Khắc từ những năm 1950. Tôi muốn kể lại lịch sử di cư bằng một góc nhìn hài hước, mới mẻ, để thế hệ trẻ không quên rằng cha ông họ đã từng dũng cảm và kiên cường như thế nào để xây dựng nên vị thế của cộng đồng người Việt ngày nay.


Bình luận Xem thêm
Bình luận (0)
Xem thêm bình luận