TTCT - Thực tế địa chính trị vẫn đòi hỏi một cường quốc với sức mạnh áp đảo để duy trì nguyên trạng một cách đáng tin cậy ở những điểm nghẽn yết hầu của thế giới. Tàu hàng mang cờ Sierra Leone, Razoni, đang trên đường đi Tripoli, Lebanon, sắp sửa qua eo biển Bosphorus, Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ, tháng 8-2022. Ảnh: AFP Cuộc khủng hoảng eo biển Hormuz, bùng lên sau khi Mỹ và Israel tấn công Iran vào cuối tháng 2-2026, cho thấy ngoài luật pháp quốc tế và hy vọng vào cách hành xử có đạo đức của các quốc gia, thực tế địa chính trị vẫn đòi hỏi một cường quốc với sức mạnh áp đảo để duy trì nguyên trạng một cách đáng tin cậy ở những điểm nghẽn yết hầu của thế giới"Câu hỏi Hormuz" thực ra là vấn đề đã được nhìn ra từ lâu, khi người Bồ Đào Nha từng dựng lên các pháo đài và bố trí phòng thủ ở khu vực này từ tận những năm đầu thế kỷ 16. Năm 1507, trong nỗ lực khống chế thương mại của người Hồi giáo ở Ấn Độ Dương, vua Bồ Đào Nha Manuel I đã xua các pháo hạm xâm chiếm và kiểm soát hàng loạt pháo đài - thương điếm trải dài từ Aden qua biển Đỏ tới Alexandria ở một bên, và Hormuz tới tận Malacca ở bên kia.Chiến tranh nhưng eo biển vẫn mởGần với thời hiện đại hơn, một so sánh tương đương là các eo biển của Thổ Nhĩ Kỳ nối Địa Trung Hải với biển Đen: Bosporus và Dardanelles. So sánh này càng trở nên thuyết phục khi ở đây nữa, cũng đã diễn ra một cuộc chiến quy mô lớn kéo dài hơn 4 năm giữa hai quốc gia ven biển Đen: Nga và Ukraine. Việc tuyến đường thủy huyết mạch này ở châu Âu và châu Á hầu như không bị đe dọa trong những xung đột hiện giờ bản thân nó đã là một thắng lợi ngoại giao lớn.Giữa cuộc xung đột, các eo biển này vẫn tiếp tục cho phép vận chuyển thương mại diễn ra tương đối bình thường. Tất cả nhờ vào thành tựu ngoại giao quốc tế còn ít được biết đến, nhưng đã rất lâu đời: Công ước Montreux, được ký kết từ tận 90 năm trước, vào tháng 7-1936, đến nay vẫn còn nguyên hiệu lực. Trong những ngày đầu tiên của cuộc chiến ở Ukraine vào năm 2022, Thổ Nhĩ Kỳ đã viện dẫn Điều 19 của Công ước tự thực thi này để đóng cửa các eo biển với tất cả tàu chiến. Không giống eo biển Hormuz, nhờ có Công ước Montreux, các eo biển Thổ Nhĩ Kỳ sau đó vẫn mở cho tàu bè thương mại.Ở Trung Đông hai tháng qua, cả thế giới bàng hoàng khi giá dầu tăng vọt, các thị trường tài chính toàn cầu đảo lộn, Cơ quan Năng lượng Quốc tế cảnh báo về tình trạng gián đoạn nguồn cung lớn nhất với thị trường dầu mỏ toàn cầu trong lịch sử, khi vận chuyển qua eo biển Hormuz gần như tê liệt. Iran nhanh chóng phô trương năng lực của họ trong việc siết chặt kiểm soát với tuyến hàng hải dài 39km này. Hỗn loạn bùng lên dọc eo biển Hormuz một lần nữa chứng minh rằng các điểm nghẽn hàng hải mà thương mại quốc tế phụ thuộc chặt chẽ vẫn là gót chân Achilles của nền kinh tế toàn cầu.Mối lo tương tự từng được nêu lên ở các eo biển Thổ Nhĩ Kỳ khi gián đoạn do chiến tranh có thể cắt đứt 1/3 nguồn cung ngũ cốc và phân bón thế giới, không khác gì Hormuz hiện nay. Dardanelles và Bosporus, nằm kẹp giữa phần châu Á và châu Âu của lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ, là cửa ngõ hàng hải duy nhất giữa biển Đen và Địa Trung Hải. Nằm ở ngã ba Âu-Á-Phi, các eo biển này đã là mục tiêu của tranh giành địa chính trị khốc liệt suốt từ thời cổ đại, từ người Hy Lạp đến người Byzantine, từ các sultan Ottoman đến các Sa hoàng Nga.Hoạt động điều tiết các eo biển này là trọng tâm của "Vấn đề phương Đông" vốn chi phối rất nhiều chính sách ngoại giao châu Âu suốt thế kỷ 19. Sau Thế chiến I và sự sụp đổ của Đế chế Ottoman, nó trở thành vấn đề phức tạp nhất của lục địa già, lúc đó đang thống trị thế giới qua hệ thống thuộc địa rộng khắp. Năm 1936, Công ước Montreux được phê chuẩn, đến nay vẫn có thể coi là giải pháp thực tế hữu hiệu nhất để xây dựng một cơ chế quản trị các điểm nghẽn hàng hải. Suốt 90 năm kể từ đó, các eo biển này đã vượt qua mọi cuộc chiến lớn mà không rơi vào tình trạng như Hormuz hiện nay.Giải pháp nào cho HormuzNhiều bài học từ biết bao thế kỷ biến động ở các eo biển Thổ Nhĩ Kỳ làm nổi bật những gì sẽ không hiệu quả trong nỗ lực quản trị đó: (1) Sự thống trị của một cường quốc xét lại, muốn yêu sách với các eo biển, trong trường hợp này là nước Nga Sa hoàng; (2) khuôn khổ quốc tế hóa lỏng lẻo, không có tính ràng buộc, tiền thân của Công ước Montreux: Công ước Lausanne (ký năm 1923). Lịch sử cũng làm sáng tỏ những gì sẽ giúp các eo biển huyết mạch vận hành bình thường trong biến cố: (1) bên chịu trách nhiệm phải là một cường quốc duy trì nguyên trạng, và (2) sự sắp xếp phải phù hợp với lợi ích của tất cả các cường quốc chính.Giảm thiểu rủi ro xung quanh một điểm nghẽn hàng hải là tối quan trọng để ngăn chặn hóa đơn bảo hiểm hàng hải tăng vọt, hay thậm chí là hoạt động giao thương bế tắc, trong thời chiến. Ở điểm (1), Thổ Nhĩ Kỳ đáp ứng hoàn hảo các tiêu chí: cường quốc khu vực, muốn duy trì nguyên trạng, và có đủ sức mạnh và sự kiên định, với lực lượng quân đội thường trực lớn thứ hai trong NATO.Tuy nhiên, mọi thứ không mấy khả quan cho eo biển Hormuz, nơi cũng đang có không chỉ một cường quốc xét lại và yêu sách quyền kiểm soát: Iran, và cả Mỹ. Tình hình hiện tại càng làm nổi bật tình trạng bất lực của các lời kêu gọi dựa trên Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS). Iran không cần tấn công mọi tàu đi qua eo biển, thậm chí không cần tấn công một số lượng lớn, chỉ cần thỉnh thoảng một con tàu dân sự trúng đạn "không rõ từ đâu" đã đủ khiến eo biển này gần như tê liệt.Nhiều thập kỷ đã trôi qua, nhưng một trật tự kiểu Montreux chưa bao giờ được xác lập ở Hormuz, một phần quan trọng là bởi các cường quốc hiện tại đã không dành đủ thời gian và công sức cho một trật tự như vậy. Do đó, nhìn lại Montreux lúc này là hợp lý hơn bao giờ hết. Tháng 7-1936, các chính khách châu Âu tề tựu về Montreux, Thụy Sĩ - một thị trấn ven hồ đẹp như tranh vẽ: Hitler củng cố quyền lực tối cao ở Đức từ năm 1934; nước Ý của Mussolini đã xâm lược Bắc Phi vào tháng 10-1935; quy định về an ninh tập thể của Hội Quốc Liên đã bên bờ vực sụp đổ. Với nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ mới thành lập dưới thời Mustafa Kemal Atatürk, không thể đảm bảo chủ quyền với lối vào biển Đen sẽ là mối đe dọa sống còn cho chế độ mới. Quan trọng hơn, Atatürk ủng hộ duy trì nguyên trạng, với phương châm: "Hòa bình cho quê hương, hòa bình cho thế giới". Do đó, Thổ Nhĩ Kỳ quyết liệt vận động để quốc hữu hóa các eo biển.Thỏa thuận 1936 đã đạt được qua cân bằng những căng thẳng rất phức tạp và bấp bênh giữa London, Berlin và Moscow. Trong mắt người Đức, Liên Xô có lợi hơn trong Công ước Montreux: Thổ Nhĩ Kỳ có thể đóng cửa Dardanelles trong thời chiến vì lợi ích của Moscow, trong khi tàu chiến Nga giành được các đặc quyền hàng hải. Đức do đó đe dọa tăng quy mô hạm đội và cảnh báo nguy cơ Thổ Nhĩ Kỳ khuất phục trước ảnh hưởng của Nga trong khu vực.Ảnh: AxiosAnthony Eden, khi đó là Ngoại trưởng Anh chỉ ra rằng Nga sẽ không bao giờ sẵn lòng giao phó việc phòng thủ biển Đen cho một đối thủ lâu đời. Và sự can thiệp của Eden không phải là do lòng nhân từ với Thổ Nhĩ Kỳ. Quan điểm ở London là cho phép chế độ Atatürk ở đó sẽ giúp Anh ngăn chặn tham vọng của Đức và Liên Xô, cũng như đảm bảo các lợi ích thương mại của Anh, vốn là một siêu cường thuộc địa toàn cầu.Bảo vệ các tuyến đường đến Ấn Độ đã là yếu tố định hình chính sách đối ngoại Anh suốt từ thế kỷ 19. Vận tải biển của Anh luôn chiếm hơn 20% tổng trọng tải hàng năm đi qua các eo biển Thổ Nhĩ Kỳ, đạt đỉnh 26,8% vào năm 1938. Một chế độ eo biển ổn định và quan hệ thân thiện với Ankara do đó là tối cần thiết với London.Cuối cùng, Montreux nhất trí đặt các eo biển dưới quyền kiểm soát của Thổ Nhĩ Kỳ, kèm theo quy định chi tiết riêng biệt về trọng tải, thời gian lưu trú, thông báo trước với tàu buôn và quân sự, đồng thời dành ưu đãi cho các quốc gia ven biển biển Đen. Chính sự rõ ràng và chính xác về quyền hạn tùy nghi trong thời chiến của Thổ Nhĩ Kỳ được đảm bảo qua Montreux đã bảo vệ sự ổn định của điểm nghẽn này suốt gần một thế kỷ sau đó.Cuộc chiến Ukraine hiện giờ thậm chí chưa phải là bài kiểm tra áp lực mạnh nhất với Công ước Montreux. Thời chiến tranh lạnh, Liên Xô đã thúc ép sửa đổi Montreux nhằm đảm bảo quyền tiếp cận đặc quyền hơn của họ với biển Đen.Stalin hình dung về việc biến biển Đen thành "ao nhà" qua một hiệp ước hữu nghị với Thổ Nhĩ Kỳ theo mô hình Ba Lan và các nước Đông Âu. Kế hoạch này, lần đầu tiên được đề xuất ở Hội nghị Yalta, đã khiến Churchill lo lắng rõ rệt. Lo sợ sự đảo lộn cán cân quyền lực ở châu Âu, Mỹ và Anh đã liên kết ủng hộ Thổ Nhĩ Kỳ duy trì chế độ Montreux và kềm chế Liên Xô, không khỏi gợi lại cuộc chiến Crimea 1853-1856 khi Anh và Pháp liên kết để kềm chế tham vọng của Nga ở Balkan và Thổ Nhĩ Kỳ, dù lần này các bên đã không phải nổ súng.Hoa Kỳ đã nhanh chóng chào đón Thổ Nhĩ Kỳ trở thành thành viên của NATO vào năm 1952 - một sự kiện trọng đại với các eo biển huyết mạch. Trở lại với Hormuz thời hiện đại, tuyên bố của Tổng thống Mỹ Donald Trump vào giữa tháng 4-2026 về việc Mỹ sẽ "phong tỏa" eo biển này có thể coi là một bài học rút ra từ Montreux. Tuy nhiên, để đảm bảo một cơ chế như vậy, sự hợp tác của Iran vẫn là điều bắt buộc. Tehran hiện biết rằng bóp nghẹt eo biển Hormuz là vũ khí hiệu nghiệm nhất mà họ có thể sử dụng trong cuộc chiến với Mỹ. Do đó, để một chế độ Hormuz trong tương lai có thể được thể chế hóa theo phong cách Montreux, việc xây dựng lại lòng tin sẽ là thiết yếu để duy trì nó; đồng thời đòi hỏi một cường quốc duy trì nguyên trạng mạnh mẽ, đáng tin cậy với sự hiện diện quân sự khả tín đóng vai trò người gác cổng.Chỉ có điều, sau gần năm thập kỷ đối đầu, việc xây dựng dựa trên bất kỳ lòng tin mong manh nào còn sót lại giữa Iran và các đối thủ của họ sẽ không phải là một nhiệm vụ đơn giản.■ Ngoài eo biển Hormuz và các eo biển Thổ Nhĩ Kỳ, thế giới còn có một số điểm nghẽn địa chính trị và hàng hải cực kỳ quan trọng khác, những vị trí này được coi là huyết mạch của thương mại toàn cầu, đặc biệt là trong vận chuyển năng lượng và hàng hóa:Eo biển Malacca: Nằm giữa bán đảo Mã Lai và đảo Sumatra (Indonesia), đây là con đường ngắn nhất nối Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương. Dài tới xấp xỉ 800 km, nhưng chỗ hẹp nhất chỉ hơn 2km, eo biển này là tuyến đường chính cung cấp năng lượng cho các nền kinh tế lớn ở Đông Á như Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Khoảng 1/4 lượng dầu thô vận chuyển bằng đường biển trên thế giới đi qua đây.Kênh đào Suez: Nối biển Đỏ với Địa Trung Hải, đây là con đường tắt giúp tàu bè đi từ châu Á sang châu Âu mà không cần đi vòng qua mũi Hảo Vọng. Lưu lượng hàng hóa qua kênh Suez chiếm khoảng 12% thương mại toàn cầu.Eo biển Bab el-Mandeb: Nằm ở lối vào phía nam biển Đỏ, nối với vịnh Aden, eo biển rộng 25-30km này là cửa ngõ để tàu bè vào kênh đào Suez. Hầu hết hàng hóa đi từ vịnh Ba Tư sang châu Âu và Bắc Mỹ đều phải qua đây.Kênh đào Panama: Nối Đại Tây Dương với Thái Bình Dương, kênh đào này cực kỳ quan trọng với thương mại giữa bờ Đông và bờ Tây nước Mỹ, cũng như giữa châu Á và bờ Đông nước Mỹ.Việc quản lý các điểm nghẽn này đòi hỏi sự phối hợp quốc tế chặt chẽ, bởi bất kỳ sự gián đoạn nào đều có thể gây ra hiệu ứng domino đe dọa kinh tế trên toàn cầu. Tags: Eo biển HormuzThổ Nhĩ KỳMỹIsraelXung đột lợi ích
Quán cà phê Việt đầu tiên ở Sài Gòn và cuộc tranh thương đầu thế kỷ 20 PHẠM CÔNG LUẬN 13/05/2026 3847 từ
Quan hệ Trung Quốc - Nhật Bản: Xung đột lợi ích hay gánh nặng của căn tính? NGUYỄN THÀNH TRUNG(Chuyên gia) 04/05/2026 2853 từ
Nửa đêm giá bạc thế giới tăng, trong 5 ngày đã tăng 11% ÁNH HỒNG 14/05/2026 Những ngày gần đây giá bạc liên tục đi lên trong khi giá vàng giằng co quanh ngưỡng 4.700 USD/ounce. Nhiều thời điểm giá bạc diễn biến trái chiều với giá vàng.
Làm sao biết mình bị tạm hoãn xuất cảnh do nợ thuế? LÊ THANH 13/05/2026 Không ít người lo ngại bị tạm hoãn xuất cảnh do nợ thuế nhưng không nhận được thông báo kịp thời. Thuế Hà Nội cho biết sẽ cảnh báo trước 30 ngày, đồng thời khuyến nghị người dân chủ động tra cứu nghĩa vụ thuế và thông tin tạm hoãn xuất cảnh.
U17 Việt Nam - U17 UAE (hiệp 1) 0-1: U17 Việt Nam liên tiếp bỏ lỡ cơ hội THANH ĐỊNH 13/05/2026 Những phút vừa qua, U17 Việt Nam gây sức ép lớn lên phần sân của UAE và tạo ra khá nhiều cơ hội nguy hiểm. Nhưng bàn thắng vẫn chưa đến với U17 Việt Nam.
Ngành thuế cấp tập xử lý gần 1 triệu doanh nghiệp, hộ kinh doanh ‘chết chưa được chôn’ ÁNH HỒNG 13/05/2026 Cục Thuế vừa phát động chiến dịch “Làm sạch mã số thuế” nhằm chuẩn hóa và giảm thiểu số lượng người nộp thuế ở trạng thái ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế, hoặc bỏ địa chỉ đã đăng ký kinh doanh.