5 ngày đêm giữa bão biển

PHẠM KIỀU 25/09/2005 02:09 GMT+7

TTCN - Ông nhớ lại: “Sau mấy tiếng đồng hồ dụ dỗ, cuối cùng tôi cũng thộp được con rẹm, cho vào miệng mình nhai nát thành nước và nuốt. Bắt được nó mừng như trúng số độc đắc vậy! Tôi ăn liền, quên chia cho thằng Thành.

Phóng to
Ông Hai Nghĩa và con trai vẫn hi vọng thằng Chó cũng sẽ đủ nghị lực, sống sót trở về
TTCN - Ông nhớ lại: “Sau mấy tiếng đồng hồ dụ dỗ, cuối cùng tôi cũng thộp được con rẹm, cho vào miệng mình nhai nát thành nước và nuốt. Bắt được nó mừng như trúng số độc đắc vậy! Tôi ăn liền, quên chia cho thằng Thành.

Tôi thấy với cách như thế có thể kéo dài sự sống nên tiếp tục kiếm để bắt cho thằng Thành một con nhưng chẳng kiếm được con nào nữa”. Sau cơn bão số 6, như có “phép thần”, ngay đêm Tết Trung thu vừa qua, người dân thị trấn Sông Đốc (huyện Trần Văn Thời, Cà Mau) bỗng phấn chấn hẳn lên khi có tin cha con ông Hai Nghĩa trở về từ cõi chết...

Cuộc chiến 5 ngày đêm với tử thần

Hôm ấy là ngày mông mười tháng tám âm lịch (13-9-2005). Lúc 22 giờ trời tối mịt, gió lớn, mưa to, biển động khá mạnh. Khi Hai Nghĩa đang điều khiển con tàu Phi Yến từ ngoài khơi vùng biển Cà Mau vào Hòn Chuối (thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, Cà Mau) thì tàu bị hết dầu, tắt máy.

Gần 40 năm đi biển, ông cảm nhận rõ môi nguy hiểm đang rình chờ nên lập tức cho quăng neo vì phía sau lưng là một hàng đáy khơi, để tàu va vào chắc chắn bỏ xác. Nhưng ông đã không làm kịp. Gió xoáy quá mạnh, nước chảy như cắt, cọng dây neo chưa kịp bám đáy biển thì chiếc tàu đã va vào cột đáy, úp gọn, hất tung năm người trên tàu xuống biển mênh mông.

Phóng to
Rất đông bà con ngư dân đến thăm hai cha con ông Hai Nghĩa vừa thoát khỏi tay tử thần
Trong tiếng vỗ như sấm của sóng biển, ông Hai thét: “Tụi bây cố lội lại chỗ tao. Có bốn cái can ở đây, đổ hết nước ra...”. Rồi ông “chỉ đạo” xé hết các áo mưa mà các ngư dân đang mặc trên người để làm dây, cột lại từng cặp hai cái can để tiện đeo bám. Riêng ông cùng với con trai Lê Ngọc Thành và thằng cháu Lê Quốc An (ông gọi là thằng Chó) bám một cặp can, cặp kia cho hai ngư dân còn lại.

Ông Hai bảo: “Đến giờ tôi mới thấy rằng tụi nhỏ nó tài! Sóng to bằng mấy cái nhà nhập lại, lúc đưa lên cao 3, 4 thước, khi dìm xuống muốn đụng đáy biển. . . Vậy mà tụi nó đổ được hết nước trong mấy cái can ra, đậy nắp lại và cột nó thành từng chùm rất đàng hoàng. Nhờ cưỡi lên cọng dây giữa hai cái can như thế, chứ nếu chỉ độc ôm cái can thôi thì tôi bảo đảm chỉ trong vài tiếng đồng hồ sóng biển sẽ cướp mất can”.

Phóng to
Anh Thành và đứa con trai 2 tuổi
Anh Thành tiếp lời: “Có nhiều sóng đạp vào tôi tưởng như có đến cả chục người đang cố giành cái can với mình. Tôi cố giật lại thì họ buông ra, để cho cái can đập mạnh vào mặt, vào ngực tôi. Đây nè” - anh đưa tay chỉ vào những vết thương lở loét trên mặt. Ông Hai Nghĩa cũng thế. Trên mặt, mà nhất là trên cằm và một vùng bụng nữa, bị lột hết da. Có lẽ nó sẽ để lại sẹo, song chẳng ăn thua, sống được mới là điều đáng nói.

...Họ bắt đầu lênh đênh trên biển trong cái đuôi của cơn áp thấp nhiệt đới và cái đầu của cơn bão số 6 đang diễn ra ở vùng biển miền Trung. Không một giờ yên ả, sóng biển cứ nhồi họ như giã gạo, hết đêm đến ngày. Chiều tối đêm thứ hai, sức lực mọi người đã rệu rã, không còn đủ để giữ tọa độ cho hai bè can gần nhau. Hai ngư phủ kia sau khi bị lạc vài giờ đã may mắn được một tàu cá cứu vớt, còn cha con ông Hai Nghĩa và thằng Chó cứ lênh đênh vô định giữa mưa to, gió giữ, sóng nhồi. Họ đã có một cuộc chiến với tử thần oanh liệt.

Ông Hai nhớ lại: “Sáng ngày thứ hai là cơ thể tê cóng, rồi đói, rồi khát... Thôi thôi, không thể tả được. Nhưng tôi không thấy nó quan trọng bằng việc phải chiến đấu với cái can mình đang ôm. Chỉ một cái can nhựa 20 lít, bình thường mình coi như không, vậy mà trong tình hình ấy nó tựa như con quái vật bất trị, cứ đập liên tục vào mặt, vào ngực mình. Lại thêm sóng biển cứ liên tục bỏ vòi táp vào mặt, nước mặn đắng chát của biển cứ tự nhiên tràn vào ruột gan, làm thêm một trận bão trong ruột. Nhiều lúc tôi suýt ngất đi, rồi cứ muốn buông phao để chết phứt cho khỏe thân già. Tôi đã mấy lần căn dặn tụi nó khi tôi chết đi, cố buộc xác tôi vào can để nó trôi vào bờ cho bà con vớt. Điều ước duy nhất của tôi lúc bấy giờ là sau khi chết xác mình được về với vợ con, với gia đình và được an táng đàng hoàng. Chỉ vậy thôi!”.

Ông Hai hớp ngụm nước chanh nóng, mắt sáng lên, kể tiếp: “Nhưng có lúc lại tự nhủ, chết mình không còn sợ thì tại sao lại không lấy hết sức lực để chiến đấu với tử thần, may ra còn một cơ may sống sót? Thế là lại thấy mình mạnh hơn một chút, rồi động viên tụi nhỏ cố lên, không được nhu nhược, yếu đuối”...

Đến ngày thứ ba, trời vẫn không ngớt mưa dông. Bộ ba họ vẫn trồi lên, thụt xuống theo từng đợt sóng nhồi. Nhưng họ vẫn mong được vậy, vì khi sóng đưa họ lên cao, họ sẽ có dịp dõi tầm nhìn xa để tìm kiếm một cái gì đó ngoài nước, mây và mưa mà họ đã nhìn đến chán ngấy suốt ba ngày ba đêm qua. Ông Hai nói: “Thời gian lúc này như đọng lại. Một ngày thấy nó dài như một chuyến biển hàng tháng trời, cứ sợ mình kiệt sức trước khi có ai đó, một cái gì đó cứu vớt được mình”.

Tối đó, 13 âm lịch, khi trăng lờ mờ dưới màn mây xám lên đến đỉnh đầu, ông Hai hô to: “Được cứu rồi bây ơi! Có tàu phía trước”. Thành và Chó giật thót người, rướn lên dòm ngó. Quả là có cái gì đó phía trước. Một ánh đèn leo lét đang tiến rất nhanh về phía họ. Ông Hai xác định lại đó là hàng đáy khơi: “Tụi bây cố gắng lái can đi đúng hướng ánh đèn đang đến để khi đến nơi chộp liền. Đây là cơ hội sống sót cuối cùng đấy, không được bỏ qua”.

Trong tai nạn lốc xoáy gây chìm 13 tàu cá hôm 13 và 14-9-2005, sau mấy ngày cứu hộ, các ngành chức năng Cà Mau thông báo có ba ngư phủ mất tích: ông Lê Văn Nghĩa, sinh 1948; Lê Ngọc Thành, sinh 1976 và Lê Quốc An, 21 tuổi, cùng ngụ ở khu vực 2, thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời. Sau năm ngày báo mất tích, gia đình đã lập bàn thờ, chuẩn bị cúng tuần... thì thình lình họ quay về. Tuy nhiên đến thời điểm này vẫn còn một người mất tích là Lê Quốc An (tự Chó).

Lúc này mọi người mới hay rằng chân mình đã không thể điều khiển được nữa, nó co quắp vì chuột rút tự lúc nào, chỉ còn hai cánh tay yếu ớt cựa quậy. Họ gồng mình, tìm cách cho đôi chân hoạt động trở lại để chuẩn bị một cú chụp quyết định vận mệnh. Ngay lập tức hàng đáy hiện ra, với những cọng dây đổi (dây niền cột đáy) đang căng lên vì nước chảy. Ông Hai nhào qua chộp được sợi dây đổi. Thành cũng qua được. Nhưng thằng Chó thì không, nó đã bị nước cuốn đi vào đêm tối cùng với cặp can. Ông Hai nhanh trí thét lên trong tiếng gào của sóng biển: “Mày cố giữ cặp can đến phút chót, không được lười biếng buông tay. Mọi người đang chờ mày ở nhà, không được chết!”.

Trên cột đáy, cách mặt biển 1,5m có một cái chòi không nóc, bằng mọi giá ông và con phải trèo lên đó. Thành, sau một hồi cố gắng cũng leo được lên trên, còn ông Hai thì đã hết sức, không thể leo theo được. Ông bảo Thành tìm một sợi dây quăng xuống trục mình lên. Trên hai sợi dây néo cột đáy nằm xiên, song song với nhau, ông Hai được Thành lôi lên theo kiểu người ta kéo vật nặng trên đường ray. Sau gần một tiếng đồng hồ, với mấy lần suýt rớt xuống biển, cuối cùng ông Hai cũng trườn lên được cái chòi. Hai cha con lăn ra và lịm đi.

Một cơn mưa lại tuôn xuống, nước trút vào mặt làm họ tỉnh dậy. Thành nhìn ông Hai với ánh mắt sáng rực, đầy hi vọng. Rồi họ không nói lời nào với nhau, cùng bật dậy, trải tấm cao su mà chủ đáy để sẵn trên chòi ra để hứng nước mưa. Ông Hai ngửa miệng lên trời cho nước mưa rơi vào, nếm từ từ từng giọt một. Ông kể: “Lúc ấy tôi thấy không còn gì quí hơn nước ngọt. Chỉ vài giọt thôi đã làm mình khác đi liền, khỏe lên gấp bội”. Những đụn nước ít ỏi đọng lại trên mặt tấm cao su dần dần khôi phục chút sức lực cho hai cha con. Ông Hai cảm nhận mình đang có tri giác trở lại. Bỗng Thành kêu lên: “Ý trời! Cha ở truồng. Ủa! Mà quần con cũng mất tiêu rồi!”. Ông Hai nhìn lại thì quả đúng vậy, nhưng chẳng cười được vì cái miệng đã cứng đờ.

Đã bước sang ngày thứ năm. Vẫn chưa thấy bóng dáng của con tàu nào. Thành đã không còn sức nữa, co rúm lại, mắt nhắm nghiền. Ông Hai cũng vật vờ không ngồi nổi, miệng đã không còn nói chuyện được. Hết nằm sấp nhìn dòng chảy như cắt của biển lại lật ngửa lên nhìn bầu trời đầy mây đen đang vần vũ như muốn nuốt chửng mạng già ông. Cuộc đời đi biển 40 năm qua, chưa bao giờ ông gặp cảnh ngộ này. Đây là lần đầu, mà cũng có thể là lần cuối của cuộc đời đi biển của ông. Cơn đói khát cồn cào hành hạ ông, ông ôm bụng lật sấp người lại.

Qua khe hở của cái sàn chòi, ông Hai thấy có con gì động đậy dưới cột đáy, chỗ gần mí nước. Ông trườn người ra trước một tí nhìn cho rõ. Là một con rẹm cái to bè, nó đang cố bám vào cột đáy để tránh bị nước cuốn phăng đi. Ông Hai thấy thèm nó quá. Ông quơ tay ra sau lưng lấy sợi dây luộc to bằng ngón tay cái, thòng xuống chỗ nó. Ông kiên trì chờ nó chán cột đáy, đeo qua sợi dây rồi nhè nhẹ kéo dây lên. Sau mấy tiếng đồng hồ dụ dỗ, cuối cùng ông cũng thộp được nó, cho vào miệng mình nhai rào rạo đến nhừ nát biến thành nước và nuốt hết vào bụng. Ông nhớ lại: “Bắt được nó mừng như trúng số độc đắc vậy. Tôi ăn liền, quên chia cho thằng con. Mà ngon thiệt, chẳng biết tanh hôi chút gì cả. Tôi thấy với cách như thế có thể kéo dài sự sống nên tiếp tục kiếm để bắt cho thằng Thành một con ăn nhưng chẳng kiếm được con nào nữa”.

Đến chạng vạng tối hôm rằm trung thu, tức là đã sau khoảng 120 giờ lưu lạc trên biển thì có một chiếc tàu cá của ngư dân tỉnh Kiên Giang đi ngang qua chỗ hai cha con ông. Ông Hai ú ớ khều gọi Thành tỉnh dậy để ra dấu kêu cứu. Thành bật dậy như cái lò xo, trèo lên ngọn cột đáy giở cờ trắng quơ quơ.

Sợ chưa đủ, ông Hai lần nữa lấy hết sinh lực còn lại của mình trèo theo con. Hai cha con vừa la, vừa vẫy, làm mọi động tác có thể để cho chiếc tàu nhìn thấy. Giờ phút định mệnh đó ông Hai nhớ như mới vừa xảy ra cánh đây vài phút: “Tôi thấy chiếc tàu sựng lại, thế là vừa kiệt sức rơi xuống nước. Thành sợ tôi chìm, nó nhảy theo. May là chiếc tàu nó thấy thật, chứ nếu không thì diêm Vương rước rồi”.

Viết tiếp câu chuỵên nghị lực sống

Phóng to
Ông Hai Nghĩa đã hồi phục sức khỏe sau hai ngày trở về đất liền
Mấy ngày qua kể từ khi cha con ông Hai Nghĩa được đưa về gia đình (khu vực 2, thị trấn Sông Đốc, huyện Trần văn Thời, Cà Mau), bà con đến thăm hỏi tấp nập. Tuy vậy, mãi đến chiều 20-9-2005 ông Hai Nghĩa mới định thần. Ong đã ăn được cháo, có thể ngồi tiếp chuyện cả giờ với bà con ngư dân đến thăm hỏi, chúc mừng mình Thành thì cũng khoẻ hơn, đã đi uống cà phê với bạn bè từ sáng.

Vợ ông Hai Nghĩa, bà Võ Thị Màng kể: “Mấy nhỏ ngưng hết mọi việc vì mừng ổng về. Nếu có tiền tôi tổ chức liên hoan một tuần để ăn mừng. Ba chồng tôi đã lập bàn thờ, tui thì đã chuẩn bị đồ để cúng tuần cho hai cha con ổng. Đến bây giờ mà đôi khi tôi có cảm giác mình đang nằm chiêm bao”. Ông Hai Nghĩa tiếp lời bà: “Chính tôi cũng khó tin là mình có thể sống sót trở về. Nghĩ lại thật kỳ diệu, con người mình hình như có cái gì mạnh mẽ lắm tiềm ẩn bên trong, đến lúc cần thiết nhất nó mới bộc phát ra ngoài để chống chọi với hiểm nguy, giật giành sự sống. ”

Những người đến thăm ông cũng có cảm giác ấy khi thấy ông quả là còn sống sờ sờ, ăn nói huyên thiên mà còn có vẻ tự tin, lạc quan hơn trước. Ông Hai khẳng định: “Tôi biết thêm một điều, trong mọi hoàn cảnh mình không được bi quan, con người có thể làm tất cả nếu biết quí trọng cuộc sống!”. Nói vậy nhưng mắt ông nhìn xa xăm ra hứơng biển, nơi thằng Chó đã trôi giạt cùng với cặp can... chưa về.

Bình luận Xem thêm
Bình luận (0)
Xem thêm bình luận