Vàng thếp và giá vàng, chuyện xưa chuyện nay

PHẠM HOÀNG QUÂN 16/03/2026 10:35 GMT+7

TTCT - Vàng dùng để thếp trong kỹ thuật sơn son thếp vàng gọi là vàng thếp, nghề cổ truyền "sơn son thếp vàng" vốn đã được truyền thông rộng rãi, nhứt là qua mấy đợt phục dựng trùng tu lấp lánh vàng ở nhiều cung điện cố đô Huế.

a - Ảnh 1.

một quỳ vàng Kiêu Kỵ. Ảnh: P.H.Q.

Sơn son tức chỉ việc sử dụng sơn ta pha với bột son tạo màu đỏ trong trang trí. Sơn ta trích từ nhựa cây sơn, gọi theo tên vùng trồng là sơn Phú Thọ, son tự nhiên được nghiền từ loại khoáng chất chu sa (thần sa, đan sa, xích đan / cinnabarit). Lá vàng dùng để thếp lên các họa tiết (vẽ hoặc điêu khắc) được chế tác từ nguyên liệu chính là vàng 24 kara.

Kỹ thuật chế tác lá vàng và kỹ thuật dùng lá vàng trong trang trí có lịch sử lâu đời, từ Ai Cập đến La Mã rồi truyền sang Trung Quốc. 

Kỹ thuật chế tác "kim bạc" ở Nam Kinh (Trung Quốc) được "Hồ sơ di sản phi vật chất" ghi nhận khởi điểm từ thời Đông Tấn, tức đã hơn 1.600 năm. Nghề làm "vàng quỳ" ở miền Bắc Việt Nam theo ghi chép trong Tân Đường thư thì có thể đã có từ trước năm 1054. 

Còn làng nghề vàng quỳ Kiêu Kỵ (Hà Nội) có lịch sử khá muộn, Hồ sơ di sản ghi vào khoảng thời Hậu Lê, tức cách nay gần 400 năm.

Lược sử tên gọi

Nghề quỳ vàng bạc Kiêu Kỵ được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2021. Theo Hồ sơ của Cục di sản: 

"Nghề quỳ vàng bạc (làng Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội) xuất hiện cách đây khoảng trên 400 năm, thời Hậu Lê. Tổ nghề là ông Nguyễn Quý Trị, khi đi sứ Trung Quốc học được nghề dát đập vàng bạc để sơn thếp vàng câu đối, hoành phi, tượng… về nước, chỉ truyền nghề cho dân làng Kiêu Kỵ…"

Nhưng hồ sơ này có nhiều vấn đề, trong đó có việc xác định sai niên đại. Lý do sai là ở chỗ tên gọi sản phẩm không thông, tức sử liệu chép tên một kiểu, dân làng nghề gọi một kiểu. 

Vàng quỳ (tên gọi phổ biến hiện nay) hay vàng thếp (tên chữ Nôm), vốn từng được chép trong sử thư và y thư Việt Nam xưa với tên kim bạc (金箔). Giống như các nguồn sử liệu Trung Hoa, "kim bạc" có nghĩa đen là "vàng mỏng".

Ngoài làm vật liệu trang trí, kim bạc còn được đông y cổ truyền coi là vị thuốc, nên tên nó cũng được chép trong y thư. Nam dược thần hiệu chép tên vị thuốc kim bạc với lời chua bằng tên Nôm kèm theo "Kim bạc, lá vàng dập. Ngân bạc, lá bạc dập" (quyển Thủ, tờ 54); Nam dược quốc ngữ phú cũng chép tên vị kim bạc "Kim tinh, ngân tinh ấy vàng bạc thổ; Kim bạc, ngân bạc này vàng bạc lá". Cả hai sách thuốc này đều là di thư của Tuệ Tĩnh, soạn trước năm 1385, khắc in lần đầu năm 1717.

Còn về sau, Hải Thượng y tông tâm lĩnh (phần Lĩnh Nam bản thảo), chép: "Ngân bạc là lá bạc thếp. Kim bạc là lá vàng thếp" (Bản thảo thập di, tờ 56. Bản in Tự Đức bính dần / 1866). Về niên đại "kim bạc/vàng dập" trong di thư Tuệ Tĩnh, bản in khắc cho thấy vị thuốc "kim bạc" (tên chữ Hán) được ghi rõ thêm tên Nôm "vàng dập" và "vàng lá". 

Nếu vậy, sản phẩm này phải có ở Đại Việt từ thời Trần, còn như có nghi vấn rằng "có thể loại kim bạc này được nhập từ Trung Hoa như nhiều loại dược liệu khác", bởi Tuệ Tĩnh không biên chép xuất xứ.

Trước mắt, có hai nguồn sử liệu chắc chắn có thể giải tỏa nghi vấn về xuất xứ. Sách An Nam chí do Cao Hùng Trưng soạn trong thời thuộc Minh (1414-1427), ở quyển 2, Cống phú (thuế khóa) chép: "Theo Đường thư, An Nam Đô hộ phủ phải cống: […] Hoan Châu cống vàng, kim bạc, hoàng tiết, ngà voi, sừng tê, trầm hương, trúc vằn". 

Đường thư có 2 bộ, bộ họ Cao dẫn thì tra ra là bộ Tân Đường thư (1054), quyển 43, phần Địa lý chí chép: "Hoan Châu quận Nhật Nam, thổ cống (thổ sản phải nộp): kim, kim bạc, hoàng tiết, răng voi, sừng tê, trầm hương, trúc vằn".

Chữ "hoàng tiết" đi liền theo sau thì trong y thư Trung Hoa gọi là kim tiết (金屑), tức vàng vụn. Thông tin trong Tân Đường thưAn Nam chí rất quan trọng đối với lịch sử nghề cổ nước Việt. Một là nó xác định sản phẩm xuất xứ Hoan Châu (Nghệ An, Hà Tĩnh), tức nguồn gốc xa xưa của nghề này không phải tại Giao Chỉ (Hà Nội hiện nay). 

Hai là thời điểm, tên sản phẩm xuất hiện từ thời Đường [có trước niên điểm ra đời sách Tân Đường thư 1054]. Nếu vào thời Đường nó là cống phẩm thì hẳn phải là sản vật địa phương đã đạt chất lượng cao ở mức độ đáng kể, cũng tức là nghề chế tác kim bạc đến lúc Tuệ Tĩnh đưa vào y thư đã trải qua lịch sử khoảng 400 năm nên đã khá phổ biến.

Ngoài sử liệu và y thư, nhiều sách thuộc dạng tự điển đối chiếu Hán–Nôm như Chỉ nam ngọc âm (khuyết danh, khắc in 1761) hay Nhật dụng thường đàm (Phạm Đình Hổ, 1827) vân vân, đều có ghi nhận tên gọi "Kim bạc là vàng diệp [lá]".

Khi lần dò kết nối các tên gọi, thấy tên kim bạc phổ dụng trong sử sách, cùng 3 tên Nôm là vàng dập, vàng lá, vàng thếp trong y thư. Riêng cái tên "vàng quỳ", là tên đang gọi chính thức trong làng nghề và hồ sơ di sản hiện nay, thì không thấy mặt chữ Nôm trong nhiều nguồn tư liệu đã khảo. 

Một hướng giải thích tạm thời, chữ "quỳ" có thể là cách gọi nôm hoặc biến âm của chữ "quỹ" (揆), do chữ này đồng nghĩa với chữ "phá" (破), có nghĩa là "đập nát", tức là lấy tên một công đoạn chế tác để gọi tên sản phẩm.

a - Ảnh 2.

Cây phong, tranh của Hasegawa Tohaku (Nhật Bản) thế kỷ 16 và 17, vẽ năm 1592, vàng cán mỏng và màu trên giấy, bảo vật quốc gia của Nhật Bản. Ảnh: Wikipedia

Niên điểm sử dụng kim bạc

Trong Lạc Dương già lam ký (534) (Ghi chép về chùa chiền ở Lạc Dương) của Dương Huyễn Chi thời Bắc Ngụy, quyển 5 có một đoạn chép lời Tống Vân kể lại cuộc hành hương Tây Vực. 

Đoạn này thuật rằng, vào năm 520, Tống Vân đến thành Phật Sa Phục (Pushkalavati, quốc đô cổ quốc Gandhara, nay thuộc Pakistan) thấy "Chùa Voi Trắng ở phía bắc thành, nhiều tượng Phật bằng đá, toàn thân thếp kim bạc". 

Ở nội địa Trung Hoa, sách Kinh Sở tuế thời ký (Ghi chép về phong tục lễ tết vùng Kinh Sở) của Tống Lẫm (501-565) nhà Nam Lương, kể ngày Nhân nhựt (mùng 7 tháng giêng) có tục "dùng lụa màu làm hình người, hoặc cắt kim bạc làm hình người, dán lên bình phong hoặc giắt lên thái dương". 

Đây là hai nguồn sử liệu cùng khoảng niên đại nửa đầu thế kỷ VI, được coi là nguồn đầu tiên nói về việc sử dụng kim bạc trong trang trí trong sử liệu Trung Hoa.

Lý Thời Trân (1518-1593) trong Bản thảo cương mục dẫn nguồn xưa hơn là Bản thảo diễn nghĩa (1195), nói "[Kim tiết] không gọi là vàng mà thêm chữ "tiết" (vụn) là có ý chỉ vàng đã được mài thành vụn, có thể sử dụng được. [Kim tiết] nhất thiết phải nấu luyện, đập dát thành kim bạc mới có thể dùng làm thuốc. Kim tiết cũng giống như vàng sống, có độc, có thể gây chết người, mà lại khó giải. Người trúng độc vàng sống, chỉ có thịt chim đa đa có thể giải được. Nếu không trải qua quá trình luyện chế, vụn vàng không thể dùng được". (Bản thảo cương mục, Kim thạch bộ, quyển 8). 

Đoạn văn cho thấy kim tiết (hoàng tiết) là dạng nguyên liệu để chế tác ra kim bạc.

Do lẫn lộn giữa "kim tiết" (vụn vàng) với "kim bạc" (lá vàng) mà trang Wikipedia đã xác định sai niên đại xuất hiện kim bạc. Trang này dẫn sách Danh dược biệt lục [đúng là Danh y biệt lục] ra đời khoảng năm 220 (khuyết danh), được Đào Hoằng Cảnh (456-536) sao bản và lưu truyền, tra cứu thì thấy Danh y biệt lục chỉ chép tên vị thuốc "kim tiết", không phải "kim bạc".

Ở Việt Nam, ngoài việc sử dụng trong y dược như đã nói, kim bạc (vàng thếp) dùng làm vật liệu trang trí được biết đến thông qua nghề sơn son thếp vàng. Thếp vàng là một bước tiến quan trọng của nghề sơn vốn có lịch sử lâu đời, việc dùng kim bạc để trang trí ước định vào thời Trần. 

Theo tác giả Lê Huyên trong sách Nghề sơn cổ truyền Việt Nam (2002), những hiện vật đồ thờ và hoành phi câu đối có thể xác định niên đại chắc chắn là vào khoảng cuối thế kỷ XVI. 

Cá biệt có di chỉ khảo cổ ở thôn Phạm Lễ (tỉnh Thái Bình cũ), khai quật được ngôi mộ xác định thời Trần, "toàn bộ quan tài được sơn son thếp vàng lộng lẫy", thông tin này cho thấy việc sử dụng vàng lá để trang trí đã có khá sớm.

Mô tả đại khái việc dùng vàng bạc lá để trang trí (thếp vàng, thếp bạc) sớm nhất có thể đọc được không phải trong tư liệu Hán-Nôm, mà trong Từ điển Việt-Bồ-La (1651) của Alexandre de Rhodes, mục từ "Thếp" ghi: 

"Thếp: Bôi trát hoặc phủ bằng vàng hay bằng bạc đã được trải thành những lá rất mỏng, hay phủ bằng sơn. Thếp vàng: mạ vàng. Thếp bạc: mạ bạc, phủ bằng những lá bạc rất mỏng. Sơn thếp: sơn thếp. Cái thếp: Bút dùng để sơn phết vật gì. Có người nói phết". 

Còn hình ảnh trực quan về một vài công đoạn đặc trưng của nghề chế tác vàng lá thì phải nhắc đến công trình của Henri Oger, trong Kỹ thuật của người An Nam (1909) có vài bức vẽ diễn tả cảnh người thợ đang dập (chế tác) vàng lá, hoặc thợ đang (dùng vàng lá để) thếp lên vật phẩm.

Khi so sánh sử liệu, có thể lưu ý rằng ở Trung Quốc, việc dùng kim bạc để trang trí được ghi nhận sớm (thế kỷ VI), y thư chép muộn hơn (vào khoảng thế kỷ XII). Ở Việt Nam, do sử liệu thiếu hụt, nên nếu căn cứ hiện vật khảo cổ thì chỉ tạm biết việc sử dụng vàng lá để trang trí có từ thời Trần (đây là vấn đề cần tìm hiểu thêm), còn y thư chép muộn (khoảng thế kỷ XIV).

a - Ảnh 3.

Lược sử nghề chế tác kim bạc

Ở Trung Quốc, trong "Danh lục Di sản văn hóa phi vật chất cấp quốc gia" (2006) thấy viết: "Trong các tài liệu của thời Nam Triều đã có ghi chép về việc sản xuất kim bạc và ngân bạc. Đến triều Nguyên, kim bạc bắt đầu được sản xuất với số lượng lớn, và đến thời Minh - Thanh lại có những bước phát triển xa hơn nữa". Do hồ sơ này không dẫn nguồn cụ thể, nên tạm tin vậy.

Một nguồn chắc chắn mà tôi đọc được là sách Thiên Công khai vật (Mở mang nghề khéo, 1636) của Tống Ứng Tinh (đời Minh): 

"Phàm làm vàng lá, sau khi đã tạo thành miếng mỏng, thì gói vào giấy ô kim, dốc hết sức vung búa đập thành phẩm, búa đập vàng, cán ngắn, nặng khoảng tám cân (4,8kg)". Có thể coi đây là văn bản ghi chép rõ ràng, chi tiết về kỹ thuật sản xuất kim bạc, đoạn trích nói trên của họ Tống chỉ là lời dẫn, còn nội dung cụ thể các bước thì khá dài.

Cốt lõi của nghề này là dùng nguyên liệu vàng thật, dập mỏng, cho ra sản phẩm là lá vàng rất, rất mỏng, có thể hình dung độ mỏng tựa như lớp màng tơ áo bên trong lóng trúc. 

Bí hiểm của vật liệu chế tác là ở chỗ tờ giấy gói lá vàng trong lúc dập, mà họ Tống gọi là "giấy ô kim" (烏金紙). Loại giấy này nện 50 búa không rách (giấy đã xài vẫn nguyên dạng, đem bán cho tiệm thuốc để gói chu sa, và "giấy ô kim" cũng chính là một vị thuốc).

Công việc cực nhọc nhất của nghề này là quá trình dập, phải nện 30.000 (ba vạn) búa mới thành phẩm. Khéo léo nhất là khâu lấy lá vàng đã dập xong gói xếp thành xấp để xuất phẩm. Người thợ phải dùng lông cánh gà nâng lá vàng và phối hợp làn hơi thổi qua đúng nhịp để giữ cho lá vàng không rách vỡ. 

Một chỉ vàng sẽ ra thành phẩm 1.000 lá (diện tích mỗi lá 3x3cm), tức dát phẳng được trên diện tích 1 mét vuông (ghi chép của Tống Ứng Tinh 1636, của Hồ sơ di sản Trung Quốc 2006, và của Hồ sơ di sản làng Kiêu Kỵ 2021 khá tương đồng về thông số này).

Đại Nam thực lục Tiền biên, quyển 2, chép: "Năm Đinh tỵ (1617), đặt Nhà đồ, thu các thứ hàng hóa phẩm, giao cho Nội lệnh sử ty giữ. Ở xứ Thuận Hóa... Ty thợ mạ vàng thì cứ 10 lượng vàng dát mỏng được 9 vạn lá kim bạc". 

Mẩu sử liệu này có niên điểm 1617, tức trước ghi chép của Tống Ứng Tinh (1636), đã cho hai thông tin khá hay. Một là, về số liệu, nếu quy đổi sẽ có con số vàng nguyên liệu với vàng lá thành phẩm (1 chỉ vàng ra 900 lá kim bạc) xấp xỉ 3 nguồn đã nêu. 

Hai là về địa điểm sản xuất, chúa Nguyễn cho chế tác kim bạc ngay tại Thuận Hóa, tuy chưa rõ nguồn thợ bản xứ hay từ đâu đến. 

Làng nghề Kiêu Kỵ có truyền thống xếp khoảng 500 lá làm thành một cọc (gọi là 1 quỳ), giá bán lên xuống theo giá vàng thị trường cộng thêm tiền công (1 quỳ tương đương 5 phân vàng, hiện nay là 7,5 triệu).

Hồ sơ di sản Trung Quốc 2006 mô tả từ lúc nhập nguyên liệu vàng phải trải qua 12 công đoạn chế tác để cho ra thành phẩm vàng lá. Còn Hồ sơ di sản làng Kiêu Kỵ 2021 mô tả 5 công đoạn. 

Sự chênh lệch này có lẽ chỉ do khái niệm không đồng nhất, tỉ như làng Kiêu Kỵ gom vài công đoạn vào một. Nguyên vật liệu quan trọng nhất trong chế tác thì Trung Quốc gọi là "giấy ô kim"; còn làng nghề Kiêu Kỵ gọi là "lá giống" và "giấy khấu". 

Giấy ô kim dùng nguyên liệu từ loại tre tên "trúc can duy", là thổ sản đặc biệt chỉ có ở vài nơi vùng Chiết Giang, phối với bồ hóng và vài loại phụ gia (rất quan trọng, thường có tính bí truyền), "lá giống" thì chế tác từ vỏ cây dó, "giấy khấu" cũng dùng vỏ cây dó, nhưng chế ra giấy dày hơn "lá giống" và dùng vào công đoạn sau. Việc chế tác hai loại giấy này tất nhiên cũng thuộc bí mật nghề nghiệp.

Về niên điểm hình thành làng nghề, theo thông tin trên báo Nhân dân: "Ông tổ của nghề dát vàng Kiêu Kỵ là Nguyễn Quý Trị, một tiến sĩ dưới đời vua Lê Cảnh Hưng (1740-1786)". 

Nhưng ở Nam Hà từ năm 1617, đã có nhóm thợ chế tác kim bạc ở phủ chúa Nguyễn, tức nghề này đã hoạt động trước Kiêu Kỵ hơn trăm năm, có lẽ do thời cuộc biến loạn, vùng đất Huế đã không giữ được nhóm thợ cung đình hay làng nghề địa phương, và cho đến thời các vua Minh Mạng, Thiệu Trị thì thấy rõ Vũ khố chỉ ký hợp đồng mua kim bạc, ngân bạc từ bên ngoài, tức không tổ chức xưởng chế tác nữa.

Vàng lá, chuyện xưa và chuyện thời sự

Kim bạc được dùng trong y dược cổ và cả trong ẩm thực. Vòng vo một chút thì trong y dược cổ Trung Hoa, ban đầu các thuật sĩ lấy vàng (vàng sống, kim tiết) luyện cùng chu sa để được thần dược "kim đan", được cho là uống vô sống mãi. 

Cũng có thuyết nói Tần Thủy Hoàng ngộ độc bỏ mạng vì uống kim đan quá liều. Đến khoảng thế kỷ XII, một số y gia đưa ra kết luận vàng chứa độc tố, rồi chuyển qua xài kim bạc. 

Một số dược tính của vàng tinh hay kim bạc ngày nay được y học hiện đại công nhận, do có thể chữa một số bịnh thuộc hệ tiêu hóa, hệ thần kinh và hấp thu chất độc ngoài da, nên có hãng rượu chế ra loại "rượu kim bạc", có nhà hàng lấy kim bạc phủ lên thịt bò, có nhiều thẩm mỹ viện dùng kim bạc đắp da mặt cho những quý bà sang chảnh thay cho dưa leo của mấy bà bình dân...

a - Ảnh 4.

Thợ dập vàng thếp (ghi chú tiếng Pháp), [Kỹ thuật của người An Nam.Tập 2, tr.10]. Ảnh: Tư liệu P.H.Q.

Ở Việt Nam thời xưa, số lượng kim bạc dùng trong y dược có lẽ không nhiều, mà dùng làm vật liệu trang trí mới là nguồn cầu chủ yếu. Chưa tìm được sử liệu ghi chép các cung điện vùng Thăng Long thời Lê-Trịnh xài vàng thếp ra sao. 

Còn ở Nam Hà, sách Phủ biên tạp lục (quyển 4), chép: "Xứ Thuận Hóa có cục Nội kim tượng, mỗi một hốt vàng mười thành [10 lượng vàng nguyên chất] thì luyện thành 9 vạn lá, họ Nguyễn dùng để trang sức đồ đạc, một năm vàng thếp thường dùng đến 40 hốt". 

Nếu thông tin này đúng thì tính ra mỗi năm chúa Nguyễn xài đứt 400 lượng vàng, theo thời giá ngày nay là gần 70 tỉ đồng, để chế kim bạc dùng vào việc trang trí xa xỉ. (Một con số để tham chiếu: tổng thuế thu bằng vàng từ dân khai thác tại 4 mỏ vàng ở Đàng Trong vào năm 1617 chỉ được 370 lượng, Thực lục Tiền biên, quyển 2).

Cái máu khoái xài vàng thếp của chúa Nguyễn cũng di truyền lâu lắc, năm Canh tuất (1790), còn lần quần ở Gia Định chưa về được Thuận Hóa, mà Nguyễn Ánh đã "sai ty Nhà đồ là bọn Phan Văn Tào kén chọn trong 62 ty các cục tượng lấy những người tinh xảo bổ làm các chức cai đội, cai quan, ty quan, thủ hợp, thứ bực khác nhau. Ở Chính dinh đặt… ty thợ thếp vàng ở Nội viện". (Đại Nam thực lục Chánh biên đệ nhứt kỷ, quyển 5). 

Trải các đời Minh Mạng, Thiệu Trị đều dùng vàng lá trang trí nhiều hạng mục cung điện, và đều có quy định chặt chẽ sát sao về kỹ thuật.

Do giá trị vật chất cao ngất, nên kim bạc đặc biệt được quản lý chống thất thoát rất ngặt. Năm 1834, Minh Mạng có tờ dụ cảnh cáo tệ nạn xà xẻo chấm mút các loại vật liệu khi xây dựng cung điện, chỉ rõ: "việc sơn son thếp vàng thì phát ít khai nhiều để kiếm chỗ dôi thừa ra…" (Đại Nam hội điển sự lệ, quyển 244, Vũ khố I). 

Qua năm 1837, lại xuống chỉ dụ riêng yêu cầu đếm kỹ cọc vàng lá (mỗi cọc 500 lá) coi có đủ số hay không, bởi có báo cáo nói quan quản lý công trình thông đồng với nhà cung cấp, bớt xén số lượng lá vàng mỗi cọc. Tệ nạn đã lâu, nay bắt đầu cho quan khoa đạo hội với nhân viên ty Vũ khố kiểm đếm khi nhập hàng, mỗi cọc 500 lá cho trừ hao 8 lá, nếu thiếu hơn 10 lá thì phải bắt đền nhà cung cấp (Hội điển, quyển 245).

Sang đời Thiệu Trị, năm 1844, tình hình tham nhũng có vẻ mạnh hơn trước nên lại chuẩn lời tâu về việc lập hội đồng kiểm soát vàng lá, bạc lá lúc thi công công trình, phải có nhân viên 4 sở của Vũ khố, hội với người ở bộ Hộ, bộ Công ký biên bản chi xuất (Hội điển, quyển 247).

Đọc mấy đoạn này trong Hội điển, chợt mắc mệt cho mấy ông vua, quản lý riêng việc xây cất xa xỉ thôi mà chú mục đếm tẳn mẳn từng lá vàng mỏng như bụi, cũng may là thời đó chưa có vàng lá giả (vàng công nghiệp, màu sắc như vàng quỳ thiệt, giá chỉ 1/20 so với vàng quỳ), khi không lại phải ra một mớ chỉ dụ thành lập hội đồng giám định chất lượng các thứ. 

Nhưng nghĩ thêm thì cũng nên thông cảm cho mấy ông vua, quản cái đám quan viên cứ canh me rút rỉa xà xẻo thành nết rồi, hỏng mần căng chắc quốc khố trụi lủi.

Xài vàng lá, trong y dược và ẩm thực tuy có chút lợi ích, nhưng nếu quá liều hoặc đụng phải đồ giả thì cũng nguy. Trong trang trí nội thất, dùng vàng lá để điểm xuyết một ít họa tiết thì tỏ nét sang trọng mà vẫn hài hòa với giá trị thẩm mỹ (cũng tương tự cách nhiều họa sĩ sơn mài thếp vàng lên tranh), còn lấy vàng lá phủ kín tác phẩm điêu khắc, rồi lại đem vàng dán đầy vách phên cửa nẻo kèo cột thì có khi thành hợm hĩnh.

Nhiều vàng quá cũng hại (thếp nhằm vàng giả thì thêm hít khí độc). Theo chẩn đoán của tôi, anh chàng dạo nọ đột nhiên bẻ gãy cái tay ghế vua ngồi trong cung điện Huế làm dư luận nổi sóng một độ, là bởi anh ta bị vướng trong một khung nội thất quá nhiều vàng nên rối loạn thị giác, dẫn đến thần kinh bất ổn, rồi hành động thiếu kiểm soát. 

Nói bắt quàng chuyện cái ghế sơn son thếp vàng bị bẻ gãy, chuyện đã lỡ rồi, chi ra chừng 20 triệu, kêu bác thợ mộc xịn với một thợ sơn thếp xịn gắn lại hai ba ngày là xong, ai đâu lại rỗi hơi tổ chức 5 cuộc hội thảo, kêu toàn dân văn phòng dốt nghề mộc nghề sơn viện này sở nọ các phía thảo luận rối não, mà nay hỏng biết gắn lại xong chưa!■

Tháng 6 năm Thiệu Trị thứ nhứt (1841), định ngạch thuế vàng quỳ của làng Kiêu Kỵ tỉnh Bắc Ninh, mỗi năm "hạng tráng đinh nộp 400 lá; hạng già yếu nộp 200 lá" (Thực lục, Đệ tam kỷ, quyển 9), thông tin hiếm hoi này cho thấy, làng nghề Kiêu Kỵ vào thời điểm giữa thế kỷ XIX đã hoạt động nhộn nhịp, và chắc chắn là nơi cung ứng kim bạc cho triều đình Huế.

Cũng thấy thêm rằng, mức thuế tính trên đầu người [thợ] tương đương 4 phân vàng, Hội điển còn cho biết thêm, nếu thay bằng tiền thì nộp 8 quan (Quyển 45, Bộ Hộ, Các thứ thuế), thử so với bảng lương đối với người làm nghề đặc biệt của năm 1839, thì phu mỏ lương mỗi tháng 3 quan, còn thợ nấu bạc lương mỗi tháng 6 quan (đều kèm gạo ăn trong tháng); 400 lá vàng so với thời giá hiện nay là hơn 6 triệu đồng, nhưng đương thời trị giá hơn một tháng lương của thợ khéo bậc cao, đáng coi là mức thuế cắt cổ người lao động.

Bình luận Xem thêm
Bình luận (0)
Xem thêm bình luận