Khu thương mại tự do: Làm gì để tránh "áo mới, cơ thể cũ"?

HỒ QUỐC TUẤN 03/03/2026 12:58 GMT+7

TTCT - Khu thương mại tự do là một bước đi quan trọng để tạo ra động lực tăng trưởng mới của TP.HCM. Ta nên làm ngay từ đầu những việc gì?

r - Ảnh 1.

Container ở cảng thuộc Khu thương mại tự do Thượng Hải (Trung Quốc). Ảnh: Reuters

Chiều 26-12-2025, tại kỳ họp thứ bảy, HĐND TP.HCM khóa X thống nhất thông qua dự thảo Nghị quyết quy định trình tự, thủ tục thành lập, mở rộng và điều chỉnh ranh giới Khu thương mại tự do tại TP.HCM.

Đây được xem là bước cụ thể hóa Nghị quyết 260 (sửa đổi Nghị quyết 98 thí điểm cơ chế đặc thù) của Quốc hội, cho phép TP.HCM thí điểm các cơ chế, chính sách đặc thù để thu hút đầu tư, phát triển thương mại, logistics và dịch vụ chất lượng cao.

Trước đó gần 2 tuần, tại Hội nghị Thành ủy TP.HCM ngày 15-12-2025, Bí thư Thành ủy Trần Lưu Quang cho biết thành phố sẽ thành lập Khu thương mại tự do Cái Mép Hạ với quy mô gần 3.800 ha, gắn với hệ thống cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải.

Làm vì chiến lược chung

Nhìn tổng thể, đây là bước đi quan trọng để tạo ra động lực tăng trưởng mới cho TP.HCM, để đóng góp vào mục tiêu chung tăng trưởng cao và liên tục từ 2026 trở đi của cả nước. 

Và không chỉ TP.HCM mới có khu thương mại tự do. Đà Nẵng, Hải Phòng và một số địa phương khác cũng đang nghiên cứu, đề xuất mô hình khu thương mại tự do nhằm tận dụng lợi thế riêng.

Trong cuộc họp của Thường trực Chính phủ ngày 5-12-2025, Bộ Tài chính cho biết dự kiến trong năm 2026 thành lập các khu thương mại tự do tại Đà Nẵng, Hải Phòng, TP.HCM, và đến năm 2030 cả nước có khoảng 6-8 khu thương mại tự do (hoặc mô hình tương tự); tới năm 2045 cả nước có 8-10 khu thương mại tự do đạt chuẩn quốc tế, cạnh tranh được với các nước trong khu vực, đóng góp 15-20% GDP.

Khu thương mại tự do cụ thể là gì và đóng góp thế nào vào tăng trưởng kinh tế?

Hiện nay trên thế giới có hơn 7.000 khu kinh tế đặc biệt và khu thương mại tự do đang hoạt động. Mô hình này được hiểu khá rộng, là các khu đa chức năng về thương mại, công nghiệp, đô thị, dịch vụ, tài chính, công nghệ cao, đổi mới sáng tạo. Mục tiêu cuối cùng là thu hút tối đa nguồn lực, huy động vốn, công nghệ và dịch vụ từ trong và ngoài nước để phát triển.

Trong khu thương mại tự do, nhiều chính sách vượt trội sẽ được thử nghiệm như miễn giảm thuế, "mở cửa tối đa" về thủ tục cho nhà đầu tư, đi đầu trong thu hút công nghệ mới cũng như thử nghiệm các cơ chế ưu đãi thuế quan và tài chính để khuyến khích thương mại quốc tế và đầu tư nước ngoài.

Nhìn vào đó thì có thể thấy khu thương mại tự do và trung tâm tài chính quốc tế là hai dự án liên đới, có tính bổ trợ cho nhau. Với TP.HCM, đây là xu thế phát triển tự nhiên và đúng ra cần làm từ lâu.

Về mặt kinh nghiệm quốc tế, một trong những nước rất sốt sắng với mô hình này là Trung Quốc. Từ năm 2013, đây đã là một chính sách quan trọng được chính phủ Trung Quốc khởi động và đến 2025 đã có 23 khu thương mại tự do, đóng góp hơn 20% tổng kim ngạch thương mại và gần 25% vốn FDI vào Trung Quốc.

Nói cách khác, đây vẫn là một công cụ chính sách để thúc đẩy thương mại và kéo vốn FDI. Và mô hình vận hành thì chúng ta không cần phải sáng tạo gì đặc biệt, bởi từ Trung Quốc, Singapore đến Ấn Độ, Ba Lan, Mexico, các nước Ả Rập đều có. 

Chúng ta chỉ cần chọn lọc mô hình phù hợp mà áp dụng. Trong 23 khu thương mại tự do của Trung Quốc, không phải cái nào cũng như cái nào, mà tùy vào lợi thế từng địa phương mà chọn các mũi nhọn như tài chính, du lịch, công nghệ, logistics, vật liệu mới, năng lượng tái tạo...

Về thành tựu và thất bại thì đều có, và cũng khó mà nói lằn ranh thành bại ở đâu. Trước 2019, nhiều khu thương mại tự do hoặc mô hình tương tự của Trung Quốc được cho là thất bại, mà báo Trung Quốc mô tả là "vắng tanh". 

Có những nơi tham vọng làm khu công nghệ cao từ 2013 đến 2019 vẫn chưa thành hình và vẫn là "vùng đất sình lầy hẻo lánh, chỉ vài doanh nghiệp hoạt động và xe cộ qua lại rất thưa thớt".

Tuy nhiên, cũng một vài khu đó, đến 2024 lại chuyển mình nhờ làn sóng dịch chuyển công nghệ xanh, vật liệu mới, cũng như thành "điểm kết nối" với các nền kinh tế Đông Nam Á, trong khi một số khu thương mại tự do cũ lại gặp khó khăn vì sản xuất chuyển sang Đông Nam Á. Nói cách khác, thành bại là những vấn đề do thời cuộc quyết định.

Tuy nhiên, về các yếu tố nội tại, nhiều nghiên cứu rút ra được một số điểm chung.

Điểm chung của thành công là vị trí chiến lược và hạ tầng thuận lợi cho thương mại, giao thông quốc tế, tức vai trò điểm kết nối. Song song là hệ thống pháp lý rõ ràng, được chính phủ ủng hộ, môi trường kinh doanh thuận lợi và chính trị ổn định.

Ngược lại, thất bại liên quan đến hạ tầng kém, khả năng kết nối yếu, thủ tục hành chính rườm rà, tham nhũng và thiếu ổn định trong chính trị lẫn quy hoạch tổng thể.

Tránh "bẫy trung bình" của bộ máy thực thi

Cũng cần thấy đây là một vấn đề dài hạn, không phải vài năm là thấy kết quả ngay. Ai cũng muốn thành phố mình là trung tâm tài chính, logistics, trung tâm thương mại quốc tế, rồi cảng du lịch sầm uất. 

Nhưng muốn là một chuyện, làm là một chuyện, huống chi cạnh tranh ngày càng cao trong khi thương mại toàn cầu đang tăng trưởng chậm lại.

Như vậy, cần có một sự nhất quán và cam kết về môi trường kinh doanh, luật lệ trong dài hạn, sự ổn định trong chính sách và ủng hộ của chính phủ. Việt Nam có lợi thế về ổn định chính trị, nhưng cũng không phải vượt trội so với các đối thủ khu vực về cam kết chính sách ổn định và dễ dự đoán trong dài hạn.

Có rất nhiều thách thức mà phía Trung Quốc cũng đối mặt, một trong số đó là chuyện tự do sử dụng đồng tiền quốc tế trong thanh toán, mà cơ bản là cam kết tự do chuyển đổi đồng tiền một phần, dù chỉ trong phạm vi của khu thương mại tự do. 

Một vấn đề nữa là sự thiếu tương đồng của các biện pháp hỗ trợ về thuế quan giữa các khu thương mại tự do, dẫn đến nhiều vụ việc "kinh doanh chênh lệch thể chế", cạnh tranh không lành mạnh giữa các khu vực thương mại tự do trong cùng một nước.

Tất nhiên, cái gì cũng có giải pháp. Ví dụ, Trung Quốc không cam kết tự do chuyển đổi đồng tiền, ngay cả một số khu thương mại tự do của Ấn Độ cũng không hoàn toàn tự do, nhưng vẫn có cách. 

Người ta chấp nhận đến những nơi đó vì chi phí rẻ, lợi thế địa điểm. Nói cách khác, nếu thua cái này thì có thể bù đắp bằng cái khác, và vì thế, cần sẵn sàng đưa ra những điểm vượt trội này ngay từ đầu.

Nói đến đây, lo ngại lớn nhất không nằm ở việc thiếu quyết tâm chính trị ở trên, mà ở nguy cơ mắc kẹt trong "bẫy trung bình" của bộ máy thực thi. Một khu thương mại tự do phát triển đúng nghĩa đòi hỏi khả năng xử lý các vấn đề phức tạp một cách nhanh chóng. TP.HCM có thể làm được vậy như thế nào?

Nếu vẫn loay hoay với các quy trình phê duyệt lòng vòng qua nhiều tầng nấc, thì cái tên "tự do" chỉ còn là một danh xưng. Phần "hồn" là tự do hóa tài chính, cắt giảm chi phí, áp dụng công nghệ mới... vẫn sẽ bị bóp nghẹt bởi những thủ tục "xin, cho" dưới dạng thức mới.

Không nói đâu xa, hạ tầng kết nối là một thứ cần phải cải thiện. Chúng ta nói về siêu cảng, về trung tâm logistics hiện đại, nhưng hiện thời, những con đường vẫn trong tình trạng quá tải và tắc nghẽn, các tuyến metro thiết yếu chưa có. Chi phí vận tải nội địa vẫn cao so với chi phí vận tải quốc tế, do vậy chỉ ưu đãi thuế quan là không đủ hấp dẫn doanh nghiệp.

Rồi còn mối lo "trung bình hóa" trong chính sách thu hút đầu tư. Quyết tâm ngay từ đầu tập trung vào những ngành công nghệ cao, tài chính quốc tế và dịch vụ giá trị gia tăng lớn phải được kiên trì đeo đuổi. Điều này, tất nhiên, lại đặt ra câu hỏi về hạ tầng và nguồn nhân lực tại chỗ.

Rào cản lớn nhất vẫn là yếu tố con người và sự đột phá về môi trường pháp lý. Đây lại không phải là những vấn đề có thể giải quyết qua câu chữ của vài nghị quyết. 

Thoát được vòng xoáy của những thủ tục hành chính phức tạp, khu thương mại tự do TP.HCM mới tránh được nguy cơ trở thành một chiếc áo mới khoác trên một cơ thể cũ vốn đã thiếu đột phá về môi trường kinh doanh một thời gian quá dài.■

Tự do chuyển đổi tiền tệ trong khu thương mại tự do là một câu hỏi hóc búa. Với mô hình Dubai chẳng hạn, thì tự do chuyển đổi rất lớn, dòng vốn và lợi nhuận ra vào bằng ngoại hối chịu rất ít hạn chế. Việt Nam khó mà làm được như vậy trong bối cảnh đồng nội tệ yếu, dự trữ ngoại hối mỏng, và chính phủ rất không mong đợi biến động lớn với tỉ giá.

Giải pháp của Trung Quốc là nới lỏng quản lý ngoại hối, cho phép chuyển đổi một phần trong phạm vi khu thương mại tự do. Đột phá gần đây nhất của họ là Tài khoản Thương mại tự do (FTA), được thí điểm tại khu thí điểm thương mại tự do Thượng Hải.

Quy định quản lý với FTA về cả nội tệ và ngoại tệ đều thông thoáng hơn so với nội địa. FTA do đó có vai trò gần giống tài khoản ngoại biên (quasi-offshore) dành cho cả đối tượng cư trú và không cư trú.

Hệ thống này cũng cho phép doanh nghiệp trực tiếp quản lý chuyển đổi ngoại tệ, thanh toán và thu nhận xuyên biên giới, và cân đối nguồn vốn nước ngoài chỉ trong một hệ thống tài khoản duy nhất.

Cần lưu ý rằng đột phá này mất cả thập kỷ đề xuất, bác bỏ rồi đề xuất trở lại mới được thông qua. Và ngay cả với FTA, Trung Quốc vẫn không cam kết tự do chuyển đổi đồng tiền.

Bình luận Xem thêm
Bình luận (0)
Xem thêm bình luận