"Đông Nam Á thu nhỏ"

  10/01/2008 19:01 GMT+7

TTCT - Borneo là hòn đảo lớn nhất Đông Nam Á (743,330km2) bao gồm quốc gia Brunei, hai bang Sabah và Sarawak của Malaysia và bốn tỉnh phía tây, trung, đông và nam Kalimantan của Indonesia.

Phóng to
Nhà dài Dayak

Cộng đồng Dayak gồm hàng trăm sắc tộc khác nhau cư trú rải rác khắp đảo Borneo, nói hàng trăm phương ngữ Dayak khác nhau nhưng tất cả đều thuộc ngữ hệ Nam Đảo (Austronesien). Một số sắc tộc chính có thể kể là Bakumpai và Dayak Bukit ở phía nam; Ngajus, Baritos, Benuaqs ở phía đông; Kayan và Kenyah ở vùng trung tâm đảo, Ibans, Embaloh, Penan, Kelabit... ở vùng Sarawak (Malaysia). Ngoài ra còn có các sắc dân Ahe, Jagoi, Selakau, Bidayuh và Kutais. Tổng số dân Dayak trên toàn đảo hiện khoảng 2,2 triệu người.

Theo nghiên cứu lịch sử, Dayak là nhóm cư dân bản địa Borneo lâu đời. Tổ tiên của họ đã di cư từ lục địa ra đảo từ hơn 3.000 năm trước hoặc sớm hơn. Xã hội Dayak bắt đầu khởi sắc khi nghề luyện kim được truyền đến hòn đảo này cách nay khoảng 2.450 năm.

Người Dayak sống bằng các nghề thủ công, nghề gốm, nghề dệt thổ cẩm, nghề đúc, săn bắt, chài lưới. Song phần lớn làm ruộng lúa nước ven sông, làm rẫy, trồng cọ trên những ngọn đồi thấp...

Phóng to
Múa ngajat
Mặc dù cộng đồng Dayak đa sắc tộc, đa văn hóa song vẫn có chung những đặc trưng Dayak nhất định. Họ gần như có chung tôn giáo Kaharingan (dạng Hindu giáo đã bản địa hóa theo thuyết đa thần ở Borneo), có chung một số phong tục dân gian như tục cưới hỏi, tang ma (đặc biệt là tục cải táng), tục chữa bệnh bằng ma thuật (shaman), tục xăm mình, tín ngưỡng phồn thực, các phong tục lễ hội dân gian...

Theo truyền thống, người Dayak nhiều thế hệ cùng sinh sống trong những căn nhà dài với nhiều tên gọi khác nhau như: rumah panjang, rumah bubungan, rumah panjar, rumah ba'anjung... Các ngôi nhà dài hiện đang thưa dần theo nhịp sống hiện đại hóa.

Trong các lễ hội truyền thống, ngoài năm mới còn có lễ hội Gawai Dayak vào đầu tháng sáu hằng năm. Sau mùa gặt, người Dayak mở hội để tạ ơn thần thánh đã hào phóng ban tặng cho họ một mùa bội thu, để tưởng nhớ tổ tiên ông bà, dạy cho thế hệ sau những giá trị văn hóa sống và để gắn kết cộng đồng với phương châm “thống nhất trong đa dạng”. Những lúc ấy, người Dayak tụ họp dưới những căn nhà dài, bày lễ vật dâng cúng, đánh trống khua chiêng, kể chuyện truyền thuyết, thần thoại, múa ngajat.

Thái Lan: thần thoại hồng thủy Kammu

Phóng to
Quả bầu văn hóa
Kammu (hay Khmu) là nhóm dân tộc thiểu số hiện đang cư trú tại miền bắc Thái Lan, bắc Lào, tây bắc Việt Nam và các tỉnh Vân Nam, Quý Châu (Trung Quốc) với dân số khoảng 500.000 người.

Thần thoại hồng thủy của người Kammu miền bắc Thái Lan kể:

“Thuở xưa có hai anh em (nam, nữ) đào hang bắt một con chuột trúc. Họ đào mãi, đào mãi nhưng chuột càng rút xuống sâu hơn. Một lần, bỗng chuột quay lại hỏi: “Sao các người đào hang bắt tôi? Hãy lo cho chính mình vì cơn hồng thủy sắp đến sẽ nhấn chìm hết thảy!”.

Hai anh em làm theo lời chuột, chặt một thân cây tròn, khoét rỗng ruột rồi chui vào, đậy nắp trốn lũ. (Có phiên bản kể rằng hai anh em làm một chiếc trống gỗ có nắp đậy bằng da). Sau một thời gian nước rút, trên hành tinh chỉ còn hai anh em sống sót. Một ngày nọ, họ chia tay nhau, em gái đi về hướng nam tìm chồng, anh trai lên phương bắc tìm vợ và hẹn ngày tái ngộ. Hai người đi mãi nhưng không gặp một ai, đành quay về chỗ hẹn. Chim cúc cu trên cành biết chuyện, giục hai anh em kết hôn.

Một ngày nọ người anh đặt bẫy bắt được một con bồ câu. Chim nài nỉ nếu tha mạng sẽ tặng một hạt giống. Người anh nhận lời, mang hạt giống về trồng, sau phát triển thành đồng lúa. Dần dà, hai anh em thuần phục được voi, chó, mèo, gà và thuần dưỡng được nhiều loại cây trồng như chuối, mía, ngô, khoai...

Bảy năm sau, người em có mang, nhưng điều kỳ lạ là đứa con cứ ở mãi trong dạ và biến thành một quả bầu tiên (bí/hồ lô). Sau khi sinh nở, hai người mang quả bầu đặt sau nhà và quên bẵng đi. Thỉnh thoảng họ nghe thấy những âm thanh lạ phát ra từ bên trong quả bầu. Người anh quyết định dùng chiếc gậy sắt nóng khoét một lỗ trên thân quả bầu. Thế là lần lượt từ bên trong, người Lamet chui ra đầu tiên, tiếp đến là người Ấn, người Kammu, người Thái, rồi người Shan, người Môn, người da trắng (phương Tây), người Hoa... cùng nối gót theo sau.

Tất cả họ ban đầu đều không biết nói. Một ngày nọ một ông già thông thái xuất hiện, dạy mỗi người một thứ tiếng khác nhau. Rồi đến lúc họ học viết chữ, mỗi người một thứ chữ. Người Thái, người Lào, người Ấn, người Hoa... vừa ăn vừa nghe giảng nên cuối cùng ai cũng có chữ viết. Người Kammu lúc ấy mải mê nấu ăn nên không nghe thấy lời thầy, đành chấp nhận lối sống không có văn tự. Đám người càng lúc càng không hiểu nhau, họ quyết định phân tán về tứ phía và hình thành nên vô vàn các cộng đồng dân tộc trên thế giới như hôm nay”.

Môtip thần thoại hồng thủy với hai anh em sống sót sau đợt lũ lụt kinh hoàng tự phối hôn tái sinh nhân loại tương tự có thể tìm thấy trong văn hóa nhiều dân tộc khác như Miêu, Dao, Xá, Ji'nuo, Lahu, Lisu, Thái, Môn cùng nhiều dân tộc Đông Nam Á khác sống rải rác trên một vùng địa lý rộng lớn từ Nam Trung Hoa đến tận quần đảo Indonesia. Ở Việt Nam cũng có hàng trăm thần thoại tương tự được kể dọc chiều dài đất nước. Sự tương đồng về mặt nội dung giữa các câu chuyện gợi lên một ý niệm chung về những đợt biển lấn từ nhiều ngàn năm trước, cũng như gửi gắm một ý niệm về mối quan hệ thống nhất, đoàn kết giữa các dân tộc trong vùng.

Một thoáng Bali (Indonesia)

Phóng to
Đền Ulun Danu - đền thờ nữ thần hồ Bratan, nữ thần nước ban tặng sức sống cho muôn dân
Đảo Bali xinh đẹp có dáng tựa một chú gà mái tơ đẻ trứng vàng, đầu quay về hướng tây, nằm ở phía đông đảo Java (thuộc quần đảo Indonesia). Bali được du khách biết đến như một thiên đường du lịch với những bờ biển cát trắng muốt tuyệt vời chạy quanh hòn đảo, nối hai đại dương rộng lớn là Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương mênh mông mây nước. Trong khung cảnh thiên nhiên tuyệt mỹ ấy, người Bali điểm tô thêm cho hòn đảo bằng những sắc màu văn hóa độc đáo của dân tộc mình.

Cư dân Bali chủ yếu làm nông nghiệp lúa nước. Diện tích đất trồng trọt ít, họ tận dụng cả đồi núi để làm ruộng bậc thang.

Với truyền thống lịch sử lâu đời, văn hóa Bali thể hiện đầy đủ các đặc trưng văn hóa nông nghiệp lúa nước Đông Nam Á, kết hợp với truyền thống Hindu du nhập từ Ấn Độ.

Phóng to
Vũ công Bali Vào đền

Bali được mệnh danh là hòn đảo của hàng ngàn ngôi đền thần, trong đó chủ yếu là các đền Hindu giáo. Mỗi làng đều có ít nhất ba ngôi đền: đền Desa - nơi cử hành các nghi lễ tôn giáo, đền Dalem - đền nữ thần chết, và đền Puseh - đền các vị thần trên thiên giới. Tại Bali, đền thần có ở khắp mọi nơi, từ thành thị đến nông thôn, trên núi, dưới thung lũng, trên cánh đồng...

Phóng to
Nhà sàn hình thuyền - biểu tượng kiến trúc đặc sắc của Đông Nam Á
Bên cạnh các ngôi đền Hindu, Bali còn có một số đền nữ thần nước, nữ thần lúa được cho là có nguồn gốc bản địa.

Vào những ngày lễ thần, phụ nữ mang lễ vật bái thần, các vũ công dịu dàng trong những điệu múa dân gian, các nghệ nhân say sưa với câu chuyện chàng Rama dũng cảm quyết đấu với quỉ thần Ravana để giành lại vợ là nàng Sita (sử thi Ramayana).

Bình luận Xem thêm
Bình luận (0)
Xem thêm bình luận