Kinh tế Việt Nam 2026: Nỗ lực tăng tốc và vùng nhiễu động

NHIÊN ANH 28/04/2026 13:21 GMT+7

TTCT - Ba tháng đầu năm 2026 khép lại với bức tranh vĩ mô sáng tối lẫn lộn, đủ để tạo kỳ vọng, nhưng cũng đủ nhiễu động để khiến những người thận trọng phải dừng lại lâu hơn trước khi đưa ra dự báo cho các quý tiếp theo.

a - Ảnh 1.

Container ở cảng Nam Đình Vũ, Hải Phòng. Ảnh: Reuters

GDP tăng 7,83% (các thống kê trong bài không nói gì thêm đều là từ nguồn trang web của Tổng cục Thống kê: https://www.nso.gov.vn/bai-top/2026/04/bao-cao-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-i-nam-2026/), một nền tảng không bi quan cho mục tiêu tăng trưởng hai con số. 

Lạm phát bình quân vẫn ở mức 3,51%, nhưng CPI riêng tháng 3 đã vọt lên 4,65% - con số cần được nhìn nhận là một nguy cơ. 

Kim ngạch xuất nhập khẩu so với cùng kỳ năm ngoái đảo chiều từ xuất siêu sang nhập siêu hơn 3,6 tỉ USD, vốn cần thêm thời gian để có thể đánh giá tác động. Trong khi đó, FDI đăng ký tăng mạnh trên 40%, cho thấy niềm tin bên ngoài vào nền kinh tế Việt Nam vẫn hiện hữu.

Đầu tư công giải ngân khoảng 11% kế hoạch năm (Thời báo Tài chính Việt Nam 6-4, dẫn lại báo cáo của Bộ Tài chính: https://thoibaotaichinhvietnam.vn/giai-ngan-dau-tu-cong-quy-i2026-nhieu-luc-can-can-thao-go-195093.html) - nhích lên so với cùng kỳ về con số tuyệt đối 30 ngàn tỉ, nhưng 11% thay vì phải là ít nhất 20% của cả năm, nên được coi là không hoàn thành và là điểm trừ lớn nhất.

Tổng thể, đây là mức tăng trưởng giữ được nhịp. Nhưng nếu đi sâu hơn, có thể thấy rõ một thực tế: tăng trưởng hiện tại chưa đi kèm với một nền tảng đủ vững để chịu được các cú sốc lớn hơn - cả từ bên ngoài lẫn bên trong.

Đầu tư công: khi kỳ vọng tiếp tục cao hơn thực tế

Không phải đến năm 2026, đầu tư công mới được kỳ vọng trở thành động lực chính cho tăng trưởng. Nhưng năm nay áp lực lớn hơn nhiều: để đạt GDP 10%, giải ngân 1 triệu tỉ được kỳ vọng là đầu kéo số một.

Tỉ lệ giải ngân khoảng 11% sau quý 1-2026, dù cao hơn cùng kỳ, vẫn cho thấy một vấn đề quen thuộc: dòng vốn đi nhanh trên giấy, nhưng đi chậm ngoài công trường. 

Điểm nghẽn không nằm ở một khâu đơn lẻ. Nó nằm ở sự chồng lớp của nhiều "độ trễ": giải phóng mặt bằng chưa dứt điểm, vật liệu xây dựng thiếu đồng bộ, thủ tục hành chính phân tầng, và quan trọng nhất là khả năng phối hợp thực thi, của các cấp thực địa.

Khi một dự án hạ tầng bị chậm, tác động không dừng lại ở chính công trình đó. Nó kéo theo hiệu ứng dây chuyền: nhà thầu chậm thanh toán, doanh nghiệp vật liệu giảm công suất, lao động mất việc làm tạm thời. Đầu tư công, trong trường hợp này, không còn là động lực lan tỏa, mà trở thành một điểm nghẽn lan truyền.

Với quy mô kế hoạch giải ngân xấp xỉ 1 triệu tỉ đồng cho năm 2026, câu hỏi tiền ở đâu không còn quan trọng bằng câu hỏi "hệ thống có đủ khả năng hấp thụ số tiền đó hay không?"

Cú sốc năng lượng từ Trung Đông: Biến số ngoài tầm kiểm soát

CPI tháng 3 tăng 4,65% không đơn thuần là một con số vượt ngưỡng. Nó là dấu hiệu của một dạng lạm phát khó xử lý hơn: lạm phát chi phí đẩy.

Khác với lạm phát do cầu kéo - vốn có thể điều chỉnh bằng chính sách tiền tệ - lạm phát do chi phí đầu vào, đặc biệt là năng lượng, phụ thuộc vào các biến số bên ngoài. Trong bối cảnh căng thẳng ở Trung Đông, giá dầu có thể biến động tùy vào trạng thái các dòng tweet của Tổng thống Mỹ Donald Trump và tình hình chiến sự Iran.

Cũng phải lưu ý về độ trễ của tác động. Phần lớn chi phí tăng trong quý 1-2026 chưa được chuyển hết vào giá bán. Doanh nghiệp thường cố gắng neo giá trong ngắn hạn để giữ thị phần, nhưng điều đó cũng đồng nghĩa với áp lực sẽ dồn về các quý sau.

Lý thuyết kinh tế sẽ cho ra một kịch bản tiêu cực: tăng trưởng chậm lại do cầu yếu, trong khi lạm phát vẫn cao do chi phí tăng. Một dạng "lạm phát đình trệ" nhẹ, không đủ rõ để gây khủng hoảng, nhưng đủ để bào mòn hiệu quả kinh tế.

Trong bối cảnh đó, dư địa chính sách trở nên chật hẹp. Nới lỏng để hỗ trợ tăng trưởng có thể làm lạm phát tệ hơn. Siết lại để kiểm soát giá cả lại khiến tăng trưởng hụt hơi. Những lựa chọn "dễ chịu" gần như không còn. 

Chính sách tiền tệ - liên quan đến lãi suất, và chính sách tài khóa - liên quan đến tăng giảm các sắc thuế, đòi hỏi những quyết định cân não mà tuần rồi, Chính phủ mới đã có những quyết định mạnh tay liên quan ổn định lãi suất cho vay, ổn định chứ không phải là hạ lãi suất.

Điểm nghẽn thực thi

Nếu các rủi ro ảnh hưởng bởi bất ổn chính trị thế giới mang tính khách quan, có thể lý giải, thì năng lực thực thi của bộ máy lại là bài toán cốt lõi từ bên trong.

Trong nhiều năm, cải cách thường tập trung vào quy trình: rút ngắn thủ tục, đơn giản hóa hồ sơ, phân cấp mạnh hơn cho địa phương. Nhưng năm 2026 cho thấy một thực tế rõ ràng hơn: quy trình có thể đã thay đổi, nhưng con người vận hành quy trình chưa theo kịp.

Ở không ít địa phương, bộ máy vẫn vận hành theo logic phòng thủ: tránh sai hơn là làm đúng. Một ví dụ là khi đối mặt với những tình huống vượt ngoài "kịch bản chuẩn" trong công tác giải ngân đầu tư công - thiếu vật liệu, vướng mặt bằng, biến động giá - phản ứng phổ biến không phải là chủ động xử lý, mà là chờ hướng dẫn. 

Ở đây phải thấy rằng năng lực quản trị và thực thi của đội ngũ không hẳn là "chưa theo kịp", mà trong nhiều trường hợp là không sẵn sàng theo kịp.

Một phần nguyên nhân nằm ở chất lượng đội ngũ công chức sau một lịch sử khá dài đào tạo và tuyển dụng theo kiểu cũ. Khi môi trường điều hành trở nên phức tạp hơn, một bộ phận cán bộ không đủ năng lực xử lý tình huống, và lựa chọn an toàn nhất là trì hoãn.

Do đó, cải cách thể chế, như diễn ngôn được truyền thông rất nhiều, sớm muộn sẽ không thể chỉ dừng ở quy định, mà phải bắt đầu từ "đầu vào của bộ máy", tức con người. Để năng suất của công đoạn này theo kịp yêu cầu của các cấp chiến lược và tốc độ của khối tư nhân - ở công đoạn thực địa - khó có thể là câu chuyện một sớm một chiều.

Nghiên cứu tình huống cần được xem xét là cơ chế tuyển dụng và đào tạo công chức mang tính cạnh tranh thực chất, tương tự mô hình khảo thí công vụ ở Trung Quốc với kỳ thi Quốc gia Công vụ viên Khảo thí, hoặc hệ thống tuyển dụng tập trung ở Đài Loan. 

Điểm cốt lõi của các mô hình này là tương đối tách rời khâu tuyển chọn và cơ quan sử dụng người trúng tuyển, qua đó nâng chất lượng đầu vào và giảm các yếu tố phi năng lực. Nếu chất lượng công chức quốc gia, những người buộc phải thạo việc, không theo kịp, thì mọi cải cách về quy trình cuối cùng cũng sẽ khó về đích trong khâu thực thi. Đó là một thực tế dễ hiểu.

Tham vọng 10%

Để đạt tăng trưởng 10%, Việt Nam cần đồng thời hội đủ nhiều điều kiện: đầu tư công tăng tốc, FDI tiếp tục giải ngân mạnh, xuất khẩu tăng trưởng tốt, và môi trường quốc tế ổn định.

Nhưng thực tế, ít nhất hai trụ cột đang ở chiều hướng không thuận lợi: môi trường bên ngoài bất định hơn, và chất lượng năng lực thực thi cho tối đa hóa giải ngân đầu tư công

Điều đó không có nghĩa là mục tiêu 10% là không khả thi. Nhưng nó khiến mục tiêu này mang nhiều tính điều kiện. Một nền kinh tế không thất bại vì không đạt được một con số tăng trưởng cụ thể, mang tính mục tiêu, được đề ra trước khi xuất hiện những cơn gió ngược trong thực tế. 

Nó chỉ thất bại khi tin rằng con số đó có thể đạt được mà không cần thay đổi mạnh mẽ cách vận hành. Về dài hạn, để những thay đổi mạnh mẽ diễn ra được sẽ quan trọng hơn bất cứ con số cứng nào về mục tiêu, vốn chịu các tác động đa chiều.

Năm 2026 đặt Việt Nam vào một tình thế đặc biệt: áp lực tăng trưởng cao hơn, nhưng dư địa chính sách hẹp hơn; nguồn lực lớn hơn, nhưng ma sát trong hệ thống cũng lớn hơn. Câu hỏi đặt ra do đó không nên thuần túy chỉ là liệu Việt Nam có thể đạt mốc 10% năm nay hay không. 

Là hoàn toàn bình thường khi đặt một câu hỏi thực tế và có tầm nhìn dài lâu hơn: Hệ thống có đang được tái cấu trúc ở cấp vận hành, để ý chí của cấp chiến lược được hiện thực hóa qua hiệu năng của các cấp công vụ trực tiếp thực thi không?

Nhìn vào chuyển động quyết liệt của bộ máy chính phủ mới, chúng ta có thể hy vọng, một đổi mới mạnh mẽ sẽ được triển khai sớm, để tốc độ vận hành chung của toàn bộ máy không bị kẹt bởi một mắt xích. Thay đổi đấy có thể là nhân tố quyết định cho mục tiêu 2 con số, trong dài hạn.■

Bình luận Xem thêm
Bình luận (0)
Xem thêm bình luận