Lạm phát - nhìn từ lãng phí trong đầu tư công

KHÔI NGUYÊN 05/12/2010 20:12 GMT+7

TTCT - Lãng phí trong đầu tư công của Việt Nam đang được nhiều chuyên gia nhận định là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến chỉ số lạm phát tăng cao những năm qua cũng như hiện nay.

Tổng cục Thống kê mới đây cho hay tổng vốn đầu tư trong nền kinh tế Việt Nam chín tháng đầu năm 2010 đã bằng 44,19% GDP, hệ số ICOR chín tháng lên tới 7,17. Vốn đầu tư của khu vực nhà nước chiếm tỉ lệ cao nhất với 37,6% và tăng đến 30,2% so với cùng kỳ năm trước... Những con số trên cho thấy hiệu quả đầu tư trong hai năm trở lại đây của Việt Nam là rất thấp, trong khi tăng trưởng kinh tế vẫn phụ thuộc rất nhiều tăng trưởng vốn đầu tư, trong đó chủ yếu là đầu tư ở khu vực nhà nước.

Hệ lụy từ lãng phí đầu tư công

GS.TS Trần Ngọc Thơ (Đại học Kinh tế TP.HCM) cho rằng đầu tư công chẳng những đề cập đến đầu tư bằng vốn ngân sách vào các công trình, dự án phục vụ lợi ích chung mà còn phải tính luôn cả phần đầu tư của Nhà nước vào khu vực doanh nghiệp nhà nước. “Đầu tư công theo kiểu Việt Nam này là nguyên nhân lớn nhất dẫn đến lạm phát cao triền miên ở nước ta” - ông nói khi chỉ ra hàng loạt nguyên nhân khiến hiệu quả đầu tư công chưa cao, từ đầu tư phân tán, kéo dài thiếu đồng bộ khiến có công trình hoàn thành mà không đưa vào sử dụng, thậm chí không hoàn thành được đến việc đầu tư thiếu quy hoạch, quản lý, giám sát đầu tư yếu kém làm thất thoát vốn đầu tư...

GS.TS Hồ Đức Hùng, viện trưởng Viện nghiên cứu kinh tế phát triển (Đại học Kinh tế TP.HCM), cho rằng đầu tư công nhằm phục vụ kinh tế dân sinh, tạo cơ sở kích thích tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu... là một đòi hỏi khách quan, do vậy đầu tư công của Việt Nam chiếm tỉ trọng cao trong GDP thời gian qua là “không có gì lạ”. Song khi đầu tư công kém hiệu quả, nợ công tất tăng theo (hiện chiếm hơn 50% GDP).

Từ năm 2001 tới nay, nợ công của Việt Nam liên tục tăng về giá trị tuyệt đối, mức nợ bình quân đầu người và tỉ lệ nợ công trên GDP. Tuy chưa đến mức báo động đỏ, nhưng cũng cảnh báo Việt Nam đang nằm trong những nguy cơ nhất định vì nó kết hợp một số vấn đề lớn, chẳng hạn kiềm chế lạm phát dưới hai con số trong bối cảnh phải thúc đẩy phát triển kinh tế, xuất khẩu.

Do vậy, ngày càng có nhiều ý kiến cho rằng cần có những giải pháp giảm bớt đầu tư công, nhất là khi đầu tư công có những tồn tại mãi vẫn không khắc phục được. Chẳng hạn như việc chính “Nhà nước vẫn là người tiêu dùng nhiều nhất đồng thời cũng là người lãng phí nhiều nhất” như đánh giá của GS Hùng.

Điều này xuất phát từ hiện trạng đầu tư công thời gian qua hết sức dàn trải, trong một lúc, diễn ra ở nhiều lĩnh vực, không đi vào trọng điểm, rất ít dự án đạt được mục tiêu làm đòn bẩy để kích thích và lan tỏa phát triển sang những lĩnh vực khác. Chưa kể sự dàn trải đầu tư tại các địa phương do những cơn khát đầu tư để ghi danh thành tích.

Trong bối cảnh ấy, những yếu kém trong quản lý đầu tư công, từ khâu đấu thầu đến khâu thẩm định, quản lý quy trình quản lý đầu tư công, kể cả kết quả đầu tư... càng có cơ hội phát tán. “Chúng ta thiếu hẳn một tổng tư lệnh, một tổng công trình sư lớn được giao đủ quyền để theo dõi, đôn đốc kịp thời những dự án, công trình trọng điểm của Nhà nước” - GS Hùng nhận xét.

Khi đầu tư công không tạo thêm bao nhiêu của cải cho xã hội mà còn tạo sức ép bội chi ngân sách cao, kết thúc bằng động tác “bơm tiền” dưới nhiều hình thức, lạm phát cao tất yếu chực chờ.

Thực tế những năm qua và thậm chí có thể những năm sắp tới cho thấy người có thu nhập cố định trong lương và người nghèo là đối tượng chịu hi sinh nhiều nhất cho các chiến lược tăng trưởng và đầu tư công thiếu kiểm soát. Hàng ngàn tỉ đồng đã và đang đổ vào các chương trình mục tiêu quốc gia (QĐ 135/2009/CP) mà hiệu quả vẫn chưa được đánh giá cụ thể, cùng thực tế người dân được hưởng lợi rất ít từ các chương trình này... chính là một dẫn chứng đắt giá.

Chi nhiều và chi đúng

Một mặt khẳng định đầu tư công vẫn “rất cần thiết và thậm chí có thể nâng mức đầu tư này lên cao hơn so với mức trung bình của thế giới và các nước trong khu vực”, GS Hùng cho rằng vấn đề đặt ra tại Việt Nam là làm sao quản lý có hiệu quả vì “anh chi tiền nhiều, chi tiền đúng và kích thích nền kinh tế thì tội gì không chi”.

Khó có thể thắt chặt đầu tư công trong bối cảnh cơ sở hạ tầng còn yếu kém bởi sẽ ảnh hưởng xấu tới phát triển kinh tế - xã hội và xuất khẩu. Song cắt giảm những dự án đầu tư dàn trải, đặc biệt là hạn chế khởi công các dự án lớn, là một động tác cần được thực thi tức thì để tránh những rủi ro của việc không thu xếp được nguồn vốn. Trong đó không thể thiếu tính toán ưu tiên cho những địa phương, những lĩnh vực cần vốn đầu tư cũng như xem xét lại năng lực thẩm định, quản lý các dự án trước khi rót vốn.

Vấn đề còn lại là việc chuyển sang hình thức đầu tư công - tư, một cách để chuyển vai trò đầu tư sang khu vực tư nhân - loại hình kinh tế đã chứng tỏ được sự năng động hiệu quả và cách thức quản lý chặt chẽ hơn. “Kết hợp đầu tư công - tư, mạnh dạn giao một số công trình thậm chí có quy mô lớn cho khu vực kinh tế tư nhân sẽ giúp tạo ra một cái “van” tài khóa, vừa giúp kiểm soát lạm phát tốt hơn đồng thời mang lại sự bình đẳng giữa các thành phần doanh nghiệp” - GS Hùng đề nghị.

Theo công bố của Tổng cục Thống kê, tháng 11 chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đã tăng thêm 1,86% so với tháng 10 - mức tăng cao nhất của tháng 11 trong 15 năm qua. So với tháng 12-2009, CPI tháng này đã tăng 9,58%; so với cùng kỳ tăng 11,09%. CPI bình quân 11 tháng so với cùng kỳ tăng 8,96%. Các con số này cho thấy mục tiêu kiềm chế lạm phát khoảng 8% là không thể đạt được.

Năm 2007, hệ số ICOR (hệ số sinh lời từ đồng vốn đầu tư) của Việt Nam là 5,2, năm 2008 tăng lên 6,6 và năm 2009 tăng lên trên 8, dự báo cả năm 2010 sẽ ở mức 10. Như vậy để tạo được 1 đồng GDP gia tăng, Việt Nam phải chi ra ngày càng nhiều hơn. Điều này tác động rất lớn đến chỉ số lạm phát, do vậy nhiều chuyên gia dự đoán lạm phát Việt Nam năm nay sẽ ở mức hai con số.

Bình luận Xem thêm
Bình luận (0)
Xem thêm bình luận