​Một buổi tối bình yên

TRƯƠNG QUANG 08/10/2014 21:10 GMT+7

TTCT - Vào khoảng năm giờ chiều, anh thường từ phòng làm việc trở về nhà, theo một thông lệ cố định tự đặt ra cho mình.

Minh họa: Nguyễn Ngọc Thuần
Minh họa: Nguyễn Ngọc Thuần

Anh vung tay đóng mạnh cửa, bỏ lại tất cả những ngao ngán dồn lại của một ngày dài trên chồng bài vở ngổn ngang trên bàn. Cái ngao ngán của đống thức ăn thừa mứa sau một bữa tiệc tiếp diễn đơn điệu hằng đêm, chẳng ai buồn nhìn lại.

Anh đã bắt đầu nghề dạy học vào những năm cuối cùng của sự nghiệp, một nghề anh chưa bao giờ nghĩ và nhắm đến. Một ngã rẽ tình cờ, không được dự tính.

Anh đã chọn nơi làm việc chỉ cách quê hương hơn một giờ bay này, chỉ để được gần gũi cha mẹ vào những ngày cuối đời, nhưng chính bản thân anh không thấy hứng thú để bắt đầu công việc mới. Cuộc sống trầm lắng ở campus có lúc đã giản dị hóa ngày tháng của anh, trở nên nhạt nhẽo, như một bình rượu cũ đã được pha thêm nước nhiều lần nhưng anh cứ phải nâng ly uống tự chúc mừng mình hằng ngày.

Anh không hẳn là một con ốc sên rút đầu thu thân vào vỏ an toàn, hay như con châu chấu vênh váo giương càng trên một cánh đồng hoang vắng, lại càng không như một con thỏ vểnh tai ngơ ngác lao thân về phía trước. Anh chỉ bắt đầu cảm thấy buồn nản và lo âu khi nghe mình lặp lại những điều chính mình đã nói trong những buổi giảng khác.

Hơn mười năm nay anh đã sống và di chuyển trong quần thể đó như anh chàng Forrest Gump. Một cuộc sống an toàn thì có thể, nhưng đầu óc thì không lúc nào cảm thấy bình yên. 

Nắng chiều còn tần ngần chờ anh dưới chân cầu thang dẫn ra con rạch nhỏ. Anh đạp xe về nhà, thay vội vàng bộ quần áo nhẹ và đôi giày thể thao, xuống lầu bắt đầu cuộc đi bộ hằng này. Anh chỉ đi bộ bình thường, chậm rãi từng bước và điều tiết hơi thở theo một nhịp vừa phải.

Màu xanh của cây cỏ và mặt hồ loang loáng những mảng nắng chiều rơi rớt dọc theo đường đi khiến trí óc anh giãn ra khoan khoái. Anh thả lỏng người, để mặc quán tính đẩy mình về phía trước, miệng lẩm nhẩm câu mantra (tự đặt) “đầu rỗng không, bước rỗng không, thân rỗng không” và tiếp tục bước.

Anh có cảm tưởng như những nỗi buồn phiền, âu lo đời thường trong ngày như những cánh lá vàng theo nhau rơi rụng dưới mỗi bước chân. Anh thấy mình thật sự nhẹ đi, linh hoạt và mới mẻ hơn sau những cuộc đi dạo đơn độc ấy.

Khoảng sáu giờ chiều, anh thường dừng lại ở một góc cuối khuôn viên của trường, leo lên đứng trên con đê đất, nhìn ra khoảng không gian xa tắp bên kia để trầm tư đôi chút. Cả một vùng đất trống trải, lúp xúp những lùm cây thấp, thường phủ ngập nước vào cuối tháng chín đầu lễ hội cầu nước Loi Krathong.

Đã có lần cơn nước lũ hùng hổ vượt qua con đê, dang hai cánh tay phũ phàng chụp xuống những dãy ký túc xá sinh viên thấp bé, vốn rất yên bình nằm dọc theo con đường nhỏ vòng quanh trường. Anh đứng một lúc trên mặt đê, nhìn những tòa nhà đang mọc lên mỗi ngày một cao hơn, thoáng chút ngơ ngác về quy luật vận động tự nhiên và lãnh đạm của cuộc sống. 

Vào đầu tháng ba, lòng người như trở nên bâng khuâng vô cớ vì một không gian rực rỡ sắc tím và vàng của nhiều loài hoa trong khuôn viên trường. Hoa đẹp nhưng rất mong manh. Vào buổi sáng, chúng còn tự mãn phô trương những cánh tươi rói, trong suốt như sương mai dưới nắng vàng ối, nhưng chiều chưa đi thì đã rã cánh, rụng phủ đầy mặt đường.

Ở vài khúc quanh, hoa rụng dày đặc không còn phân biệt lề đường và bờ cỏ, nhưng chỉ trong một thoáng, những cánh hoa như giấy lụa mỏng tang đã hòa tan vào mặt đường nóng bỏng.

Anh không khỏi xót xa khi giẫm lên những cánh hoa nhẽo nhẹt không còn nguyên vẹn màu sắc dưới những bước chân hằng ngày của mình, nhưng tuyệt nhiên không muốn liên tưởng đến những điều buồn phiền trong ngày mà anh đang muốn thả rơi rớt trên đường.  

Tối nay anh bất ngờ nhận được lời mời ăn tối của một sinh viên cùng gia đình vào một ngày trong tuần. Người sinh viên có cái tên chấm dứt bằng “ski” dài dòng anh không thể nào nhớ được, theo học lớp MBA ngoại khóa, mặc dù đã có bằng tiến sĩ về sinh học và đang làm giám đốc một dự án cải thiện môi sinh cho các nước trong vùng.

Anh nhớ lại người sinh viên đứng tuổi, hơi gầy guộc so với người gốc Âu khác, nhưng thanh nhã và khá khiêm nhường trong cách đặt câu hỏi và giao tiếp với các bạn đồng khóa người Thái trong lớp.

Bình thường thì anh từ chối, không nhận lời bất cứ một cuộc thăm viếng tư gia nào của sinh viên, nhưng lần này anh đã tạo một biệt lệ, đơn giản vì anh cần một chút gì mới sau khi đã mục kích những gì xảy ra bên kia con đê và cái chết bất thường của người bạn anh.

Căn nhà của gia đình người mời nằm trên con đường dẫn vào khuôn viên trường, có tên gọi là khu gia cư New Zealand. Đó là một dãy nhà đặc biệt bằng vật liệu toàn gỗ, có lan can bao quanh bốn mặt, dành cho giảng viên trong trường. Anh thường đạp xe qua đó mỗi ngày, nhưng chưa bao giờ có dịp vào bên trong. 

Điều tình cờ gây thú vị cho anh là người đàn bà và “đám gà con” đang chờ chào đón vợ chồng anh ở phòng khách. Họ ăn mặc giản dị, mỉm cười nhẹ nhàng đầy thân thiện khi vợ chồng anh đưa tay ra bắt. Người chủ nhà lần lượt giới thiệu tên của bảy thành viên trong gia đình, kể cả chính mình, rồi đưa tay điểm một vòng mấy cái đầu lố nhố bên cạnh, đùa một cách hồn nhiên:

“Tôi gốc Ba Lan, vợ gốc Bỉ, đều là tín đồ Thiên Chúa giáo thuần thành nên không sử dụng những biện pháp ngừa tránh thai thông dụng. Mọi sự đều đặt trong tay Chúa!”.

Khi tất cả đã ngồi xuống hai dãy ghế rải rác những chiếc gối dựa mềm trong phòng khách, người chồng giải thích bằng một giọng Wallon-Bruxelles câu hỏi của anh về cái đuôi “ski”. Năm đứa con có khoảng cách đều đặn hai năm tuổi ngồi dồn vào một góc dưới sàn nhà, mắt mở to đầy hiếu kỳ như lần đầu được nghe bố kể về gốc gác của dòng họ.

Cha mẹ người chồng đã vượt thoát khỏi trại tập trung người Do Thái vào những năm cuối cùng của cuộc Thế chiến thứ hai, khi Hồng quân tiến vào Warschau và đến định cư ở vùng Bruxelles nước Bỉ. Như những cây khô đã bị vắt kiệt nhựa sống, những người tị nạn đó đã bám xuống mảnh đất lưu dung, hồi sinh và vươn lên hòa mình vào cộng đồng xã hội mới.

Phần lớn trong số họ nhanh chóng trở thành những người Bỉ thành đạt bình thường, nhưng dứt khoát không dứt bỏ cái đuôi “ski” Ba Lan của mình.

“Không phải là một hoài niệm, không phải là niềm tự hào, mà chỉ để “làm khó” mọi người vì cách phát âm phức tạp và rất khó nhớ. Thế thôi - Người chồng cười hóm hỉnh: Lát nữa vợ chồng người bạn gốc Ba Lan của gia đình chúng tôi sẽ cùng nhập bọn. Cái tên của anh ấy cũng “khó khăn” không kém gì đâu!”.

Buổi cơm tối đã bắt đầu nhưng vẫn chưa thấy bóng dáng hai người khách. Chiếc bàn dài được phủ đầy những đĩa thức ăn Thái đa dạng và đậm màu sắc thiên nhiên. Người đàn bà đầu bếp bưng đĩa cuối cùng ra, đứng ở một đầu bàn giới thiệu bằng tiếng Thái đặc điểm của từng món ăn và cách thức ẩm thực như thế nào.

Vợ chồng anh thích nhất là món cà ri cua xốt gạch vàng sền sệt, đã có lần tình cờ được thưởng thức ở khu chợ đêm tại vùng biển Hua Hin.

Bỗng có tiếng đàn vĩ cầm từ trên lầu tỏa xuống như một tấu khúc dạo đầu trong một nghi lễ thần thoại, khiến tất cả mọi người trong phòng ngẩng đầu nhìn lên ngóng chờ một điều ngạc nhiên huyền bí. Rồi tiếng đàn ngưng lại, dư âm còn váng vất trên những ngọn nến lung linh nhẹ.

Một người đàn ông tay cầm cây đàn vĩ cầm và cần kéo, đỡ một người đàn bà xuống cầu thang, cẩn thận từng bước một. Bộ áo quần đầy màu sắc dài phủ xuống tận gót chân kéo lê trên mỗi bậc thang. Người đàn ông tách ra đứng ở một góc phòng, trịnh trọng nâng đàn lên cằm, mắt không rời người đàn bà, khởi đầu một bản nhạc mang âm hưởng những bộ tộc miền núi Đông Á.

Người đàn bà nhẹ nhàng nâng hai cánh áo lên, xoay mình theo một vòng tròn cuốn theo nhịp đàn. Những vòng nữ trang kim loại đeo ở cổ, hai vòng tay và quanh hông chạm vào nhau phát ra những thanh âm hỗn tạp nghe rất lạ tai. Bỗng dưng người đàn bà đổ người xuống giữa vòng xoay thứ hai, ngã sóng soài trên sàn nhà.

Người đàn ông dừng đàn đến bên cạnh, khẽ khàng nâng vợ lên, rút khăn tay thấm những đợt nước miếng đang ứa ra từ hai môi, thầm thì trong tai người đàn bà, kiên nhẫn vỗ về. Người đàn bà gật đầu như đồng ý, rồi tựa vào tay chồng, đứng lên cùng đi về phía hai chiếc ghế còn trống.

Hai vợ chồng ngồi xuống bắt đầu bữa cơm còn dang dở, rất tự nhiên như thói quen chân chất, không đãi bôi của dân tộc Lào. 

Chỉ lúc ấy anh mới nhận ra những điều khác thường ở người vợ. Chị có khuôn mặt thanh tú, nhưng hai mắt luôn mở lớn nhìn lên ngơ ngác như trẻ thơ. Hai bàn chân chị quay vào trong, chập chững trên mỗi bước đi; hai cánh tay vênh ra, lòng bàn tay lật ra ngoài như để giữ thăng bằng mỗi khi di chuyển toàn thân.

Chị cũng không nói được, hai hàm lệch khiến miệng không thể khép lại và nước miếng luôn tươm ra, chảy xuống ướt cả cằm, mỗi khi chị cố gắng phát ra một âm thanh không rõ ràng, như tiếng chim lạ. Hai tay chị đung đưa và những ngón tay co quặp lại hốt hoảng khi chị cố gắng diễn đạt một điều gì.

Hình như có một thứ ngôn ngữ riêng để trao đổi giữa hai người, để hiểu ý của nhau, không cần phát âm như người thường.

Người đàn bà khiến anh liên tưởng đến cô con gái tật nguyền của gia đình người bạn thân của cha anh, luôn luôn được giữ kín trong một căn phòng, anh chưa từng thấy mặt, dù anh đến chơi mỗi tuần và đứa bé mắc chứng down syndrome mà cô em dâu thường trông giúp một đồng hương, mỗi lần mớm cơm phải tát mạnh vào má để thức ăn có thể tọt vào cổ họng.

Họ như được thu xếp một cuộc sống “bên lề xã hội”, như để trả một món nợ tiền kiếp (mà họ không hề biết và không có trách nhiệm) của chính mình hay của ai đó trong gia đình mình. Điều đáng ngạc nhiên là ngoại trừ vợ chồng anh, những người hiện diện trong phòng khách (kể cả người đầu bếp) đều tỏ ra bình thản, xem những gì đang xảy ra như một điều bình thường.

Năm đứa trẻ đến quanh người vợ, ríu rít những tràng tiếng Thái anh không nghe rõ và không hiểu. Chỉ thấy mặt chị sáng ra, đỏ hồng đầy vẻ hào hứng.

Người chủ nhà giới thiệu người bạn đồng hương với vợ chồng anh. Người chồng cũng thuộc thế hệ thứ hai của đợt tị nạn từ Ba Lan, đã tốt nghiệp và ở lại dạy vĩ cầm ở Académie de musique de Bruxelles. Trong một chuyến sang Thái Lan thăm vợ chồng chủ nhà ở campus, anh tiếp tục lên Chiangmai ở vùng phía bắc và đã tình cờ gặp chị ở một ngôi làng sắc tộc trong vùng Tam giác vàng.

Trong một buổi tối homestay anh đã thử cây đàn kéo dây bám đầy bụi và bồ hóng của gia đình có một con gái tật nguyền suốt ngày ngồi co mình trong bóng tối ở một góc nhà sàn. Anh so dây và nổi hứng chơi hết một bài nhạc cổ điển Ba Lan.

Kỳ diệu thay, tiếng nhạc như phát đi những tia sáng soi rọi vào tận cùng cái góc tối âm u nhất của căn nhà sàn và giải phóng số phận đã bị kìm hãm hàng chục năm của một cô gái vừa qua tuổi dậy thì, chưa một lần bước xuống cầu thang một mình. Người con gái đó đã lồm cồm đứng dậy, khua tay, loạng quạng đi ra và ngã vào lòng anh.

Gia đình ấy đã tặng người khách tài hoa đến từ phương Tây cây đàn cổ ấy và anh đã quyết định trở lại “hỏi cưới” người con gái tật nguyền bẩm sinh đó, mặc kệ những lời khuyên răn của nhiều người, kể cả gia đình. Không ai hiểu được quyết định bất bình thường này của anh, ngoại trừ vợ chồng người bạn ở Thái Lan, cũng là những người đứng ra thu xếp cuộc hôn - nhân - kỳ - lạ - của - thế - kỷ. 

Sau món tráng miệng khảo dẻo và xoài cắt lát tẩm nước cốt dừa tươi, người đàn bà lại đứng lên cùng chồng, cẩn thận kéo những nếp áo lại cho thẳng thớm. Lần này thì cô con gái lớn nhất của chủ nhà đưa chị ra giữa sàn. Người chồng bắt đầu trỗi một khúc nhạc rộn ràng hơn.

Người đàn bà chầm chậm xoay người, những ngón tay co quặp từ từ giãn ra, đôi chân di chuyển nhịp nhàng hơn theo tiếng nhạc đệm. Bóng người đàn bà như thoát khỏi thân xác mình, bay bổng lên, hai cánh áo rộng xòe ra như những cánh bướm màu sặc sỡ trong một vũ điệu sắc tộc truyền thống miền bắc Thái Lan.

Không một lần vấp váp. Những sơ sót, cục mịch, vụng về, lẻ loi cỏn con được khỏa lấp, hòa quyện trong một bức tranh thiên nhiên toàn bích.

Người đàn bà chậm rãi quỳ xuống sau nốt nhạc cuối cùng, cẩn thận xếp cánh áo dài phủ lên đôi chân trần của mình và cúi đầu nhẹ nhàng trong một cử chỉ cảm ơn khiêm nhường. Không ai vỗ tay tán thưởng. Chỉ có sự trân trọng và lòng ngưỡng mộ. Một buổi “trình diễn” tuyệt diệu của những điều kỳ diệu của một số kiếp có thể đã bị chối bỏ hay bỏ quên trong muôn vàn cuộc đời bình thường.

Căn phòng khách còn váng vất mùi gỗ trầm từ rừng sâu nhiệt đới đã dựng lại một xã hội nguyên thủy sơ khai. Không có than thân, không có trách phận, không có thương cảm, không có tủi thân; chỉ có cảm nhận, chia sẻ và hòa đồng của những kiếp người đồng thời, đồng cảnh, đồng đẳng, đồng cảm, đồng điệu và đồng hành về phía trước.

Đồng hồ trên tường chỉ đúng chín giờ. Năm đứa trẻ lần lượt đứng lên hôn bố mẹ và khách, chúc một “đêm an lành”. Vợ chồng anh cũng cáo từ sau chén trà thứ hai. Vợ anh dừng lại bên cạnh người đàn bà rất lâu, không biết họ đã nói với nhau những gì.

Vợ chồng người chủ nhà và người bạn đồng hương Ba Lan tiễn vợ chồng anh xuống tận chân cầu thang gỗ. Người vợ khuyết tật đứng ở bực cửa nhìn xuống, một bàn tay co lên nửa chừng trong động tác vẫy chào. Hai mắt mở to hồn nhiên. 

Trăng thượng tuần treo lơ lửng giữa trời thu như một chiếc đĩa tròn dát nhũ vàng lung linh đổ xuống mặt con rạch nước trước nhà những đốm sáng nhờ nhờ như thủy ngân. Mùi hương thoang thoảng của cụm hoa nguyệt quế từ những giò lan rừng và mảnh trăng chơ vơ giữa trời khiến anh nôn nao trong một nỗi khao khát được tâm sự với ai một điều chưa được bày tỏ trọn vẹn. Anh nắm chặt tay vợ cùng đi bộ chậm rãi về nhà. 

Đường khuya vắng tanh như giữa giờ giới nghiêm. Cả hai như đội trăng mà đi.

Bình luận Xem thêm
Bình luận (0)
Xem thêm bình luận