Người Việt ở Biển Hồ

QUỐC VIỆT 22/08/2004 01:08 GMT+7

TTCN - Những người Việt đang sinh sống bằng nghề chài lưới lâu năm trên biển Hồ (Tonle Sap) ở Campuchia trầm tư kể rằng cha ông mình đều là người nghèo khó.

Phóng to
Một góc xóm nổi của người Việt ở Biển Hồ

Họ là những lưu dân tay trắng mê đời tự do lang bạt chạy lánh chiến tranh, trốn tránh nợ nần nên đã ngược dòng MeKong tìm qua đây sinh sống. Biển Hồ đối với họ là cá mú, là ký ức đẫm máu, và bây giờ đang là cuộc hồi sinh trong gian khổ...

Mặc dù chưa đến mùa nước lớn, nhưng Biển Hồ vẫn mênh mông không thấy đâu là bờ. Từ trung tâm thành phố Siem Reap, tôi ngồi xe 30 phút, rồi thêm 15 phút chạy ghe nữa mới tới xóm nổi của ngư dân người Việt. Đó là mấy trăm “ngôi nhà” nằm rải rác trên ngách sông đổ ra Biển Hồ.

Gió chướng và sóng. Những “ngôi nhà” có nền là chiếc ghe gỗ nhỏ xíu, mái lợp bằng lá dừa nước rách tươm cứ chao đảo như sắp chìm. Hay tin có khách từ quê sang, nhiều người mừng rỡ tụ lại. Họ bảo với tôi rằng cuộc sống của mình hồi sinh, không như trước đây rất nhiều ngư dân bị lính Pol Pot thảm sát. Người chết, người hoảng sợ bỏ chạy. Cả lòng Biển Hồ nhuộm máu, hoang vu...

Ký ức đẫm máu

Ngừng tay vá lưới, bà Phạm Thị Đẹp, 70 tuổi, ngậm ngùi nhớ lại cái ngày bà không thể nào quên! Đó là một chiều chạng vạng, vợ chồng bà đang chài lưới với bạn thì một tốp quân Pol Pot bất ngờ cặp ghe vào. Chúng chỉ hỏi một câu có phải người VN không rồi đập báng súng AK vào đầu và cắt cổ họ bằng dao găm. Trong chớp mắt ghe bạn gồm bảy người, có cả đứa bé mới ba tuổi, bị chúng giết sạch và đạp xác xuống Biển Hồ. Vợ chồng bà chài lưới cách đó khoảng vài chục mét hoảng hốt quay đầu ghe lủi thẳng vào vạt rừng đước ngập nước. Bọn Pol Pot nổ súng đuổi theo nhưng do chúng không quen luồng lạch nên ông bà chạy thoát.

Sau mấy ngày lênh đênh, vợ chồng bà về đến Cao Lãnh (Đồng Tháp) an toàn nhưng những người thân khác đã không gặp may. Bốn anh em trong gia đình chồng bà đều bị giết chết và bạn bè hàng xóm cũng không còn mấy ai. Các ngư dân già vẫn còn nhớ ông Lê Bảy To, một võ sư đến từ vùng Thất Sơn, An Giang.

Qua Biển Hồ sinh sống khoảng năm 1960, ông nổi tiếng gan lì hay cứu giúp người khác. Bỏ chạy khỏi quân Pol Pot suốt một ngày đêm, vợ chồng và đứa con gái ông chỉ còn cách biên giới VN vài kilômet thì bị hai xuồng máy của lính Pol Pot khóa chặt đầu đuôi. Biết bọn chúng là chuyên gia đập đầu cắt cổ và tiết kiệm đạn, ông giả vờ đầu hàng, rồi nâng chân vịt máy ghe ngồi đợi. Chờ khi bọn chúng cặp ghe vào vừa tầm, ông đảo tay đánh chân vịt vẫn đang quay tít chém xả đầu ba tên lính Pol Pot. Sau đó, để trả thù, bọn chúng cắt đầu cả nhà ông treo lủng lẳng lên ngọn đước, còn xác thì thả trôi lềnh bềnh trên sông...

Bây giờ không một ngư dân Biển Hồ nào nhớ chính xác có bao nhiêu người Việt đã bị giết ở đây, nhưng ký ức mỗi người còn đầy ắp nỗi ám ảnh hãi hùng. Nhiều người dẫn cả dòng họ sang đây sinh sống trên mấy chiếc ghe nay chỉ còn cô độc một mình. Nhiều người phải chứng kiến cảnh vợ con bị hãm hiếp, giết chết để rồi phải đau đớn suốt phần đời còn lại... Ông Tư Hoàng, người có vợ và con bị lính Pol Pot giết trong một đêm, kể: “Bận đó bắt được người Campuchia bọn chúng còn đưa đi tù đày, sàng lọc để giết. Riêng đối với người VN cứ phát hiện là bọn chúng giết liền, bất kể ai, làm gì...”.

Anh Nguyễn Văn Duyên, một ngư dân 42 tuổi, theo cha mẹ chạy về Hồng Ngự, Đồng Tháp cuối năm 1976. Năm 1981, anh quay lại biển Hồ, nhưng cứ phải chèo ghe đi khắp nơi để tránh bọn Pol Pot. “Chúng không dám tấn công trắng trợn như trước, mà đợi đêm xuống giả làm ghe chài để bắt người hãm hiếp, cướp của rồi giết chết”. Để đối phó, các ngư dân VN phải quần tụ lại với nhau cùng ở cùng làm. Nhưng thỉnh thoảng bọn chúng vẫn bí mật ập đến đốt ghe, giết hàng loạt người rồi bỏ chạy. Ngư dân nơm nớp lo sợ. Dành dụm được tiền họ cũng không dám giữ bên mình. Một số người chịu không nổi lại quay về VN hay lên các thành phố khác của Campuchia kiếm sống.

Cuộc hồi sinh

Phóng to
Gia đình anh Tri trên chiếc ghe mục cũ mục
Qua những năm 1980, theo chân quân tình nguyện VN, nhiều người đã trở lại Biển Hồ. Mặc dù đám tàn quân Pol Pot vẫn còn rình rập nhưng họ cũng có lý do của mình để trở lại như mồ mả cha mẹ vẫn còn bên đây, chỉ quen với việc chài lưới, không ruộng đất, nhà cửa ở quê nhà. Lúc ấy cá Biển Hồ vẫn còn nhiều. Ngư dân chỉ cần kéo lưới, giăng câu một đêm đã đầy ắp cả xuồng. Họ chỉ chọn bắt con lớn, còn con nhỏ thả đi. Tuy nhiên, cá nhiều nhưng ngư dân cũng không khấm khá. Một phần vì họ phải dành tiền sắm sửa lại ghe lưới sau đợt bỏ của chạy lấy người, phần khác vì tàn quân Pol Pot luôn quấy phá.

Những năm gần đây, tình hình an ninh ổn định dần, bà con người Việt quây quần thành từng xóm nổi trải dài từ Phnom Penh, Kampong Thom đến Siem Reap, Battambang, Pursat. Mỗi xóm có khoảng từ vài chục đến vài trăm ghe “nhà” thả neo rải rác ven hồ... Gia đình nào kha khá ngoài chiếc ghe làm “nhà” còn có thêm một, hai chiếc ghe nhỏ để chài lưới, giăng câu. Gia đình nghèo thì chiếc ghe “nhà” cũng chính là phương tiện làm ăn. Mùa khô, Biển Hồ chảy ra sông Mekong và thu hẹp diện tích còn khoảng 3.000km2 với độ sâu trung bình 4-8m.

Nhưng từ tháng 5 – 10, lũ lên, mặt nước hồ trải rộng 10.000km2 với nơi sâu nhất đến hơn 20m. Sóng gió của nó cũng rất dữ dội và thường xuyên nhận chìm xuồng ghe của ngư dân. Cách đây 10 năm nó từng là nơi cung cấp 60% lượng cá nước ngọt cho cả Campuchia. Tuy nhiên, lượng cá Biển Hồ đang giảm sút rất nhanh. Ngư dân bây giờ phải đi làm cả ngày lẫn đêm mà vẫn thiếu hụt thường xuyên.

Trên chiếc canô do một người Campuchia đã từng học ở Nha Trang cầm lái, tôi lần lượt đi qua các xóm nổi VN. Một số ít gia đình có cuộc sống tạm khấm khá như vợ chồng anh Duyên (chuyển ghe cá thành tiệm tạp hóa), ông Tư Hoàng (bốn tàu lưới và thuê bạn đi nghề)... rất dễ nhận ra với chiếc ghe “nhà” tương đối rộng, vách gỗ sơn màu, mái lợp tôn và có tiền đóng thuế để đăng ký số nhà.

Tuy nhiên, đa phần ngư dân vẫn đang chật vật kiếm sống. Bà Đẹp theo chồng trở lại Biển Hồ năm 1982 được vài năm thì ông chết vì lao phổi. Bà có ba con gái, nhưng hai cô Nhung và Tơ đã ở tuổi 38, 50 vẫn ở vậy nuôi mẹ. “Nhà” họ là chiếc ghe bề dài khoảng 4m, ngang 1,5m mà đứng lên đụng đầu, bước tới thì... xuống sông. Cả nhà đang trông cậy vào một cô con gái đi vá lưới thuê mỗi ngày được 8.000 riel. Bà Đẹp cứ hỏi tôi: “Còn chiến tranh không cậu?”. Bà bị bom đạn ám ảnh đến nỗi tới bây giờ nhiều đêm nằm mơ tự lăn tòm xuống sông để... trốn giặc!

Rất nhiều người Việt ở Biển Hồ nhưng lại không thể sống bằng nghề cá. Đó là những phụ nữ mất chồng, mất cha vì bệnh tật, sóng gió hay bị lính Pol Pot sát hại. Tiếp tôi trong chiếc ghe rệu rạo mục nát, rộng chưa bằng hai manh chiếu đơn ghép lại, cô Lê Thị Nữ cho biết ba má cô bị lính Pol Pot ném lựu đạn chết. Cô thoát nhờ đi giăng lưới với chồng. Nhưng rồi đến lượt chồng cô lại chết vì bị mưa bão Biển Hồ nhận chìm. Suốt năm năm qua, cô sống vò võ một mình với nghề bán sương sa, sương sáo.

Không chỉ những nhà thiếu sức lực đàn ông mới khó khăn, ngay cả nhiều gia đình đông đủ người vẫn đang sống rất chật vật. Anh Nguyễn Văn Tư, một cựu chiến sĩ tình nguyện sư đoàn 5, khi xuất ngũ lập gia đình với chị Nhạn ở Biển Hồ. Họ có tám con thì tất cả đều thất học vì ngày ngày phải theo cha mẹ lênh đênh làm cá. Năm rồi, họ vay nợ 4.000.000 riel để nâng cấp ghe nhưng mới đi lưới được ba hôm đã bị sóng nhận chìm ở mực nước sâu 20m, may mà giữ được mạng sống.

Phóng to
Khuôn mặt đăm chiêu của bà Đẹp, một người Việt ở Biển Hồ và đứa cháu đang lớn
Khi tôi đến, anh đang ngồi băm cá vụn lẫn rau để bỏ vào nồi cháo làm bữa trưa cho cả nhà. Lấy bàn tay dính đầy vảy cá gạt mồ hôi trên mặt, anh bảo nỗi lo lớn nhất hiện nay là nợ. Tiền nâng cấp ghe không trả nổi, chẳng ai cho anh mượn thêm 1.000.000 riel nữa để “đóng thuế kiểm” ra xa bờ làm cá chính vụ. Chủ nợ thì đang hăm hết mùa cá này không thanh toán được họ sẽ xiết “nhà”. Anh chỉ ước ao có đủ tiền để dẫn gia đình về thăm quê nhà ở Thủ Đức...

Hiện nay, nợ nần đang là gánh nặng của các ngư dân nghèo ở biển Hồ mà nhiều nhất là hình thức vay nóng tiền của “tào kê” để trang trải cuộc sống rồi làm trả dần. Chài lưới được bao nhiêu cá, họ bị buộc phải bán hết cho những người này với giá 1000-5000 riel/kg tuỳ loại. Ngoài chuyện bị ép giá họ còn phải trả lãi ở mức 30 – 40%. Trước đây nhiều ngư dân còn lén lút phơi cá khô để đến mùa nắng bán dần có giá hơn, nhưng bây giờ ngay cả cá tươi cũng thiếu để trả nợ. Xoay sở với tình trạng biển Hồ kiệt cá, một số người làm thêm bè nuôi cá trê, cá lóc, cá rô đồng.

Tuy nhiên, do sống lênh đênh không có giấy tờ, họ không thể tìm nguồn vốn ở đâu ngoài đi vay nóng làm bè để rồi nợ chồng nợ! Do biển Hồ thường xuyên sóng gió lớn nên “gia sản” ghe, bè của họ cũng hao hụt rất nhanh theo thời gian. Ông Tư Hoàng cho biết một bè cá neo ở sông nhỏ có thể hoạt động được 5-7 vụ, nhưng ở hồ này chỉ 2-3 vụ là đã rệu rạo, phải đầu tư mới lại …

Sau nợ nần, nỗi lo thứ hai của ngư dân VN ở biển Hồ hiện nay là thất học. Ở xóm nổi Siem Reap, tôi chỉ tìm được mươi đứa biết đọc biết viết trong gần cả trăm đứa trẻ. Khi thầy giáo dạy tiếng Việt ở đây bỏ về Phnom Penh, con nít cả xóm nghỉ học. Chỉ có anh Duyên và vài gia đình nữa ráng đưa con đến được trường bản xứ với học phí 300 riel mỗi ngày cộng thêm tiền ăn uống và phí đi đò. Tình trạng của những đứa trẻ ở xóm nổi Ek Phnom, Battambang cũng chẳng khá gì hơn. Chỉ vài đứa vào được trường địa phương trong khi cha mẹ lại lo các con biết nói nhưng không viết được chữ Việt.

Không chỉ trẻ em mà ngay cả người lớn cũng đang bị nạn thất học làm cho khó ngóc đầu lên nổi. Thế hệ của họ khi còn nhỏ thì chạy chiến tranh, lớn lên lại lênh đênh kiếm sống làm sao có nổi chuyện học hành.

Ngư dân người Việt ở biển Hồ là những người rất giỏi nghề chài lưới, nhưng họ biết cá tự nhiên ở Biển Hồ sẽ cạn kiệt và dù muốn hay không cũng phải đổi nghề mưu sinh. Nhiều người đang đau đáu suy nghĩ trở lại quê nhà: “Ở đây nghèo thì về quê mình dù sao cũng dễ thở hơn phải không anh?”.

Bình luận Xem thêm
Bình luận (0)
Xem thêm bình luận