Ra khỏi tháp ngà

THY ANH (THEO NEWSWEEK) 29/08/2008 19:08 GMT+7

TTCT - Giáo sư Michael Crow đang giám sát một trong những công cuộc tái cấu trúc cơ bản nhất trong giáo dục đại học, kể từ khi các đại học dành cho nghiên cứu hiện đại ra đời ở Đức vào thế kỷ 19.

Phóng to

Chủ tịch NYU Sexton đang ra sức thay đổi chương trình học theo hướng quốc tế

TTCT - Giáo sư Michael Crow đang giám sát một trong những công cuộc tái cấu trúc cơ bản nhất trong giáo dục đại học, kể từ khi các đại học dành cho nghiên cứu hiện đại ra đời ở Đức vào thế kỷ 19.

Học thuật và thực tế

Năm 2002, giáo sư Crow nhậm chức chủ tịch Đại học bang Arizona, Mỹ (Arizona State University - ASU). Từ đó, ông đã giúp tăng gấp đôi ngân sách của trường, lên hơn 2 tỉ đôla mỗi năm, thuê hàng chục chuyên gia nghiên cứu đẳng cấp thế giới, nhờ thế đã nhanh chóng nâng cao thành tích đào tạo của một trường từng thuộc hạng thường. Ông cũng làm thay đổi hẳn cách nghĩ về chính mình của ASU và giúp đưa trường vào thời đại toàn cầu.

Điều đó có nghĩa là điều hành trường như một công ty, huy động vốn mới, tìm thêm đối tác là những nhà doanh nghiệp và tái cấu trúc trên diện rộng. Giáo sư Crow đã loại bỏ các khoa đào tạo truyền thống, gộp chúng lại thành những viện tổng hợp đa ngành, đào tạo theo nhu cầu thiết thực của nền kinh tế và cả xã hội.

Ông khuyến khích sáng tạo và giải quyết vấn đề của thế giới thực bằng cách tạo điều kiện cho các chuyên gia hợp tác với nhau và suy nghĩ vượt ra khỏi khuôn khổ chuyên môn của mình. Do đó, Đại học Điều dưỡng mới của ASU không chỉ tập trung dạy chăm sóc người bệnh mà còn thúc đẩy các kiến trúc sư, nhà làm chính sách và các giáo sư dạy kinh doanh làm việc với nhau, nhằm tạo ra những bước đổi mới trong công tác y tế.

Tham vọng của giáo sư Crow còn vượt ra ngoài khuôn khổ giáo dục. Ông hi vọng tăng tầm ảnh hưởng của ASU đối với phát triển kinh tế của Arizona và cả khu vực. Ông gọi mô hình đại học của mình là “Đại học mới của Mỹ”. Đây cũng là một phần trong các cải cách toàn diện vai trò của đại học trong thế kỷ 21. Ngoài giáo sư Crow còn có một số nhà tiên phong khác như John Sexton (Đại học New York) và Richard Miller (Đại học Kỹ thuật Olin).

Trước đây, các giảng viên chỉ tập trung vào giảng dạy và nghiên cứu cá nhân, không quan tâm nhiều đến những gì xảy ra ở các khoa khác, chưa nói đến thực tế bên ngoài cổng nhà trường. David Audretsch, nghiên cứu tác động kinh tế của các đại học của Viện Max Planck (Đức), nhận xét: “Từng có một bức tường ngăn cách đại học với xã hội. Các đại học đã không đóng góp gì lớn cho nền kinh tế”.

Tuy nhiên, bắt đầu từ những năm 1980, các trường như Stanford và MIT đã trở thành trung tâm của kinh tế tri thức ở Mỹ. Ở đây xuất hiện những ngành học mới như hóa sinh, công nghệ sinh học phân tử, thúc đẩy thành lập doanh nghiệp và khởi nghiệp (ngành quản trị kinh doanh). Họ còn tạo ngân sách cho công tác nghiên cứu thông qua hợp tác với các công ty. Theo Audretsch, đây là một trong những nguyên nhân giúp duy trì tỉ lệ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững cho nước Mỹ trong những năm 1990.

Trong khoa học lẫn các ngành học khác như kỹ thuật, y dược, kinh doanh và kinh tế, những rào cản từng cô lập trường đại học khỏi xã hội đã bị lật đổ. Ngày nay, việc các trường đại học giúp giải quyết những vấn đề thực tế của cuộc sống và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đã trở nên phổ biến.

Roberta Katz, phó chủ tịch phụ trách hoạch định chiến lược Đại học Stanford, cho biết sứ mệnh của trường là làm tăng tính hòa nhập của đại học bằng cách phá bỏ những “tháp ngà ngăn cách”. Stanford đã thành lập hàng chục trung tâm và chương trình đào tạo đa ngành, thay đổi không chỉ giáo trình mà còn cả kiến trúc của những tòa nhà mới để khuyến khích tinh thần tập thể và hợp tác đào tạo chéo.

Ở châu Âu, Trung Đông và châu Á, nơi trường học thường bị chế độ quan liêu đè nặng, các đại học cũng đang nhanh chóng áp dụng mô hình này. Gordon McConnell, phụ trách chiến lược Đại học thành phố Dublin, cho biết trường đã nhận được chỉ thị rõ ràng là phải đưa Ireland lên hàng ngũ những nước có nền kinh tế tri thức. Đại học thành phố Dublin được thành lập cách đây chưa đầy 30 năm, không giống như Đại học Trinity gần đó, ra đời từ năm 1592.

Ngày nay, các công ty như Intel và Samsung đã đặt phòng thí nghiệm ngay trong trường này, nhờ sự hỗ trợ của Cơ quan Phát triển nội lực Ireland. Lúc đầu, các giáo sư phản đối kịch liệt cái họ cho là sự thương mại hóa trắng trợn. Tuy nhiên, liên kết trực tiếp với một số công ty đã giúp thúc đẩy kinh tế của “Con hổ xứ Celtic” (tức Ireland), mang lại cho sinh viên tốt nghiệp một bước khởi đầu thuận lợi khi kiếm việc làm.

Toàn diện hơn nữa là Saudi Arabia. Vào năm 2010, khi Đại học Khoa học và công nghệ vua Abdullah được khánh thành, đây sẽ không chỉ là đại học giàu thứ sáu thế giới với số vốn góp (endowment) lên tới 10 tỉ USD mà còn là đại học có cơ cấu mang tính cách mạng nhất thế giới: không có khoa đào tạo học thuật nào cả. Tại đây sẽ có bốn viện nghiên cứu liên ngành, tập trung vào sinh học, công nghệ vật liệu, năng lượng và môi trường, công nghệ máy tính và toán học.

Quốc tế hóa học trình

Phóng to
Sinh viên Đại học Điều dưỡng mới của ASU, nơi thực hiện các cải cách nhằm đưa học thuật đến gần cuộc sống hơn

Các thay đổi trên không chỉ đơn thuần là cơ cấu lại những bộ phận của đại học. Bản thân sinh viên cũng được thụ hưởng những kinh nghiệm học tập hoàn toàn mới và mang tính quốc tế.

Trước đây, khi các trường như Georgetown hay Cornell của Mỹ thành lập cơ sở vệ tinh ở nước ngoài, họ đơn thuần chỉ nhượng quyền thương hiệu, tức “cho mướn” tên và kiếm tiền, không mang đến cho sinh viên ở Mỹ cơ hội học tập tại nước ngoài. Nhưng giờ đây điều đó đã thay đổi.

Giáo sư Sexton của Đại học New York (NYU) chẳng hạn, đang lên kế hoạch sử dụng cơ sở ở nước ngoài của trường để quốc tế hóa chương trình học.

Theo đó, sinh viên có thể học tập quay vòng tại các chi nhánh của NYU ở New York, Abu Dhabi, Tel Aviv, Florence và tại các trường liên kết ở Berlin, Thượng Hải, Singapore và Buenos Aires. Đây không phải là học kỳ truyền thống ở nước ngoài bình thường. Nếu kế hoạch của giáo sư Sexton được thực hiện, toàn bộ sinh viên tốt nghiệp sẽ hiểu ngôn ngữ và văn hóa của nhiều quốc gia - một phần không thể thiếu của chương trình học.

Sinh viên cũng sẽ được lợi từ hai cải cách quan trọng khác đang được tiến hành, liên quan đến chỉ tiêu tuyển sinh và học phí. Đại học Kỹ thuật Olin, thành lập năm 2001 tại Needham, Massachusetts, không chỉ xóa bỏ những ngành học lý thuyết và hình thức bổ nhiệm giáo sư, mà còn miễn học phí cho toàn bộ 300 sinh viên của trường và trả lương bằng khoản vốn góp 460 triệu đôla. Cải cách trên nhằm giúp sinh viên tự do khi lựa chọn công việc cho mình sau khi ra trường mà không phải lo lắng về việc trả nợ.

Tuyển sinh nhẹ nhàng

Hãy trở lại với ASU. Giáo sư Crow hứa sẽ giữ nguyên chỉ tiêu tuyển sinh ngay cả khi thứ hạng của trường tăng lên (tức không tuyển sinh khắt khe hơn). Ông cho rằng chính sách tuyển sinh quá nghiêm ngặt của các trường như Harvard và Yale đồng nghĩa với việc chỉ chọn những sinh viên mà thành công gần như đã được đảm bảo. Theo ông, đào tạo sinh viên ít có khả năng thành công lại có giá trị hơn nhiều. Các nghiên cứu mới cho thấy ý kiến của ông là đúng.

Theo đó, sự thành công thực tế - “giá trị gia tăng” đối với con người - ở những trường chất lượng tốt nhưng tuyển sinh dễ lại cao hơn so với các “trường Lá phong” (chỉ tám đại học hàng đầu nước Mỹ như Harvard, Yale...).

Giáo sư Crow cho biết: “Không tuyển sinh nghiêm ngặt là thay đổi cơ bản nhất chúng tôi đang thực hiện”. Ông không phải là người duy nhất nghĩ như vậy. Katz của Đại học Stanford cho biết bà đang xem xét, đánh giá lại chiến lược tuyển sinh của trường.

Giáo sư Crow cũng cấp tiến như những nhà cải cách đại học hiện đại Đức thế kỷ 19. Ông phối hợp công tác giảng dạy và nghiên cứu theo cách mới. Và như thế, sinh viên lẫn xã hội sẽ thật sự được lợi từ quá trình cải cách này.

Bình luận Xem thêm
Bình luận (0)
Xem thêm bình luận