Đồng niên vãng sự: Một giọt nước to của một làn sóng mới

  • SÁNG ÁNH
  • 26.06.2019, 10:14

TTCT - Bộ phim trôi đi tự nhiên như cuộc đời, không có tiết tấu và dàn xếp, khi mưa khi nắng như thời tiết và chậm như là thời gian...

Đợt sóng mới (New Wave) của điện ảnh Đài Loan ra đời năm 1982. Đó là thời gian chót của 38 năm thiết quân luật tại hòn đảo và chế độ kiểm duyệt khắt khe đã nới lỏng. Điện ảnh Đài Loan từ đầu mang tính chất tuyên truyền để phục vụ chế độ Dân quốc và công cụ này là Công ty Trung Ảnh (CMPC) của Đài Loan.

Một quyết định táo bạo 
của Đài Loan

Đầu thập niên 1960, CMPC đã bắt đầu khuyến khích đường lối gọi là “Kiện khang tả thực chủ nghĩa”, tức là tả thực “lành mạnh”. Một thí dụ nổi tiếng của thể loại này do giám đốc CMPC Cung Hoằng (Gong Hong) đề xướng là Dưỡng áp nhân gia (Beautiful Duckling, 1965, đạo diễn Lý Hành - Lee Hsing).

Nhưng đến năm 1980, điện ảnh Đài Loan đứng trước nguy cơ toàn diệt bởi điện ảnh Hong Kong. Băng video bùng nổ và theo ngả các đầu máy video này là các phim hành động, kiếm hiệp Hong Kong. Đài Loan nắm các rạp hát và kiểm soát được phim nhựa chiếu rạp nhưng không kiểm soát được các băng VHS tràn lan.

Điện ảnh Đài Loan phải có phản ứng trước đe dọa diệt vong, và quyết định thay vì chạy theo trào lưu vừa đá vừa bay vừa bắn súng hai tay thì ta quay sang chĩa máy vào đời thường.

Chuyện đi ngược thị trường này chỉ có thể làm được với giúp đỡ của quỹ điện ảnh Đài Loan. Đợt sóng mới Đài Loan ra đời với “bà mụ” này. Cho đến giờ CMPC vẫn làm công việc nâng đỡ đó: mỗi năm có quỹ giúp 15-20 bộ phim truyện và phim tài liệu Đài Loan.

Giọt nước lớn: Hầu Hiếu Hiền

Trong số các nhân vật của đợt sóng mới này, phải kể đến Hầu Hiếu Hiền (Hu Hsiao Hsien). Luyến luyến phong trần (Dust in the wind, 1986) là bộ phim nổi tiếng nhất trong bộ ba phim truyện “vào đời” của ông. Đó là Đông đông đích giả kỳ (A summer at Grandpa’s, 1984), Đồng niên vãng sự (The Time to live and the time to die, 1985) và Luyến luyến phong trần. Ba bộ phim này mang tính cách tự truyện, thuật lại tuổi thơ và cái khoảnh khắc chạm vào cuộc sống để trở thành người lớn, cái bước ngoặt của sự trưởng thành và không còn quay lưng lại được.

Cảnh trong phim Luyến luyến phong trần, 1986
Cảnh trong phim Luyến luyến phong trần, 1986

Và đã gọi là một phong trào thì hiếm khi nào từ trên trời rơi xuống trúng ngay một anh hào. Nó cần có những điều kiện khách quan: Đó là một guồng máy điện ảnh biết uyển chuyển trong một thời kỳ mới (thiết quân luật chính thức chấm dứt tại Đài Loan vào năm 1987), để đối phó với một tình thế mới (sự đe dọa của điện ảnh Hong Kong) và sự hưởng ứng của một số nhân sự, nhóm, đoàn. Chọn lựa của nó là, nếu ta không thể qua mặt Hong Kong với Tây Thái Hậu hay Mãnh Long đấu súng, thì ta chọn đề tài về cuộc sống trong một hộ gia đình tầm tầm ở một tỉnh nhỏ cạnh Cao Hùng.

Đồng niên vãng sự là bộ phim truyện thứ sáu của Hầu Hiếu Hiền. Các phim trước của ông thuộc thể loại hài kịch lãng mạn (Rom-Com, romantic comedy) ăn khách. Thể loại tân tả thực (Neo Realism) trong Đồng niên vãng sự, xin nhắc lại, phát sinh ở Đài Loan nhờ chính sách của CMPC. Đã gọi là một làn sóng thì không chỉ có một giọt nước: cạnh Hầu Hiếu Hiền còn có Dương Đức Xương (Edward Yang) hay Thái Minh Lượng (Tsai Ming Liang)…

Đạo diễn Hầu Hiếu Hiền

Nói qua, nếu phim truyện Đài Loan có hơi hướm và không khí của một bộ phim Nhật Bản (như Ozu trong thời kỳ sau và phim màu), thì đó không phải chỉ là một lý do văn hóa. Đài Loan từng là thuộc địa của Nhật, và trước năm 2000, các bộ phim truyện trên thế giới đều được quay bằng phim nhựa. Hong Kong, cũng như Tây phương, dùng phim nhựa Eastman Kodak. Khối Liên Xô dùng phim màu Svema, là kỹ thuật lấy được từ Đức (Agfa) sau Thế chiến. Đài Loan dùng phim Fuji của Nhật và mỗi loại phim màu nhựa này có một sắc khác biệt và cá tính.

Dĩ nhiên là ngày nay với kỹ thuật số thì muốn màu gì chẳng được, nhưng trước đó, mỗi loại phim nhựa màu có một sắc riêng, đến nỗi có nhà phê bình điện ảnh bảo phim Hong Kong trong thập niên 1970 - 1980 mang chất “ngây ngô” vì dùng phim nhựa Eastman loại rẻ tiền! Nhận xét này không hẳn là vô lý vì phim nhựa dùng tại Hong Kong không có “chiều sâu” và rõ nét “tinh vi”, lại mang một sắc xanh lợt lạt khi in tráng. Vẽ tranh trên giấy bản thì dĩ nhiên là phải khác vẽ trên bố vải.

Chậm như thời gian, thực như cuộc đời

Ngoài cái sắc phim nhựa Fuji, về nội dung, Đồng niên vãng sự cũng tựa như một bộ phim Ozu. Nó trôi đi tự nhiên như cuộc đời. Kịch bản không có sắp xếp và xây dựng thường thấy ở một bộ phim truyện quy ước. Thí dụ, chuyện tình cố hữu, hai người gặp nhau, thích nhau dần dà, họ vừa chớm yêu nhau thì tình yêu của họ bị đe dọa (bởi một người thứ ba, bởi gia đình, bởi hoàn cảnh, bởi hiểu lầm). Họ vượt qua các trở ngại và đe dọa này được giải tỏa. Họ đèo nhau trên xe máy hạnh phúc. Hết phim.

Ở bộ phim này của Hầu Hiếu Hiền, không có tiết tấu được cài đặt và dàn xếp. Nó khi mưa khi nắng như thời tiết, và chậm như là thời gian. Nhân vật chính là A-Hao, lên 10 tuổi lúc phim bắt đầu. Cha em (Điền Phong - Tien Fen) là một giáo viên người Quảng Châu, và mang gia đình sang Đài Loan làm việc trước năm 1949. Trong nhà có chị cả 16, anh trai 14 và sau A-Hao còn có hai em trai nhỏ. Họ sống với bà nội (Đường Như Uẩn - Ru Yun Tang), là người thương cháu A-Hao nhất vì thầy bói bảo cháu này về sau sẽ thành đạt, làm quan. Em lớn dần, đánh bi đánh đáo trong khi bố em càng ngày càng ốm. Ông mất vì bệnh lao. Thì đời sống phải có cái chết.

 

Người anh lớn phải vào sư phạm đi xa vì đó là trường không tốn học phí và khi tốt nghiệp thì có việc. Bà nội thì lẫn, có khi nhầm Đài Loan với quê quán, cho xe lô địa chỉ ở đại lục. Chị cả lấy chồng lên Đài Bắc khi A-Hao trở thành thiếu niên (Du An Thuận - Yu An Shun thủ vai). Em theo các bạn cùng lứa, lúc đánh nhau, lúc phá làng phá xóm. Đến lượt mẹ lâm bệnh phải lên Đài Bắc với con gái, nhà chỉ còn ba anh em chăm bà nội. Rồi mẹ mất vì ung thư cuống họng. 

Nhưng cuộc sống vẫn tiếp tục. A-Hao theo các bạn lần đầu đi chơi gái tại một hồng lâu ọp ẹp, được cô gái tặng cho hồng bao 5 đồng, là tập tục địa phương dành cho trai tân. Anh tơ tưởng một nữ sinh trong xóm (Tân Thụ Phân - Hsin Shu Fen, sau này giữ vai chính trong Luyến luyến phong trần), khi cô này đi ngang các bạn nói lớn “Ê, thằng này nó mất trinh rồi!”, cô không thèm quay lại. Một hôm, đạp xe đi theo cô, A-Hao đưa thơ, cô cầm thơ tỏ tình và chỉ nói “Đợi anh khi nào thi đậu vào đại học đã”. Đây là câu thoại độc nhất của vai này trong phim.

Cảnh trong phim Đồng niên vãng sự
Cảnh trong phim Đồng niên vãng sự

A-Hao cắm đầu vào sách và thi rớt. Bà nội chết, các cháu chỉ biết khi thấy bà bị kiến bò. Nhà quàn đến lau xác, khi lật bà lên thấy thịt đã thối vì nằm mãi một bên, ném cho các cháu trai một cái nhìn “đồ bất hiếu”. Phim hết. Đúng là “vãng sự”, 7-8 năm của một cuộc đời.

Toàn bộ phim là những cảnh tĩnh, con đường vào nhà, cái cây đầu ngõ, trời mưa. Những sự cố chính trị, xã hội bên ngoài gia đình như khủng hoảng eo biển với đại lục (1958) rì rào qua đài hay có lúc kỵ mã cỡi ngựa qua xóm. Máy ít khi nào động, vì động máy phải có chỗ trong phim trường, và phải đặt đường ray để đẩy. Thường khi không động máy thì ta động diễn viên cho bớt tẻ nhưng ở đây diễn viên cũng tĩnh, không qua lại và hoán chuyển chỗ trước máy, thí dụ như là trong tuyệt tác Hoa Kỳ Citizen Kane.

Cảnh đây là cảnh thật, một xóm tỉnh lẻ, một căn hộ bình dân, không có đại cảnh tốn phí, như đám ma hay đám cưới là những sự kiện lớn trong gia đình. Hiếm khi có cảnh trên một chục diễn viên. Cảnh lớn duy nhất là gia đình tiễn mẹ ở nhà ga khi bà lên Đài Bắc. Còn đi học về thì leo tường, mẹ nấu nước cho tắm, chị thì chặt thịt thái rau. Thoại cũng tủn mủn và cộc lốc, chỉ có những cơn giông là dài rũ rượi. Bộ phim dài 138 phút, các nhân vật cũng như khung cảnh, ngồi lì ở đó chờ mùa mưa lại đến và mùa mưa đi qua.

Đồng niên vãng sự không lôi kéo như Luyến luyến phong trần và ít được biết đến hay yêu mến hơn có lẽ là vì vậy. Người xem phải đợi đến lúc kiến bò lên tay thì mới… tỉnh dậy. Sự thờ ơ và đơn giản của thường nhật rất là chính xác, các cảm xúc diễn tả chỉ khua có lộp bộp rồi lắng.

Đây là sắc thái riêng của nó và ở quan điểm này, ta có thể chuộng nó hơn những bộ phim sau này của Hầu Hiếu Hiền. Nó rất tĩnh, và quan điểm nói tới của nó, có thể là quan điểm giả dụ của một máy TV đặt ở trong phòng khách của một hộ, bất động mà nhìn cuộc sống của người trong hộ này chung quanh.■

Đồng niên vãng sự đoạt giải của các nhà phê bình (FIPRESCI) ở Liên hoan phim Berlin 1986 và phim không phải Âu - không phải Mỹ hay nhất ở Liên hoan phim Rotterdam 1987. Các bộ phim sau của phong trào này đoạt giải lớn tại các liên hoan phim Berlin, Venice hay Cannes. Một Lý An (Ang Lee) xuất chúng hay Trần Quốc Phú (Chen Kuo Fu) cũng chẳng từ đất mà nảy ra nếu không có điều kiện vun xới. Hoa ít khi nào mọc dại, và ít khi chỉ mọc một mình.

Vui lòng nhập nội dung bình luận.

Gửi