Tính khoa học và minh bạch đằng sau xét nghiệm doping

TTCT - Vụ vận động viên Đỗ Thị Ngân Thương có kết quả dương tính với doping do sử dụng thuốc lợi tiểu furosemide, vi phạm quy ước của Thế vận hội Olympic đã gây ra nhiều tranh cãi. Phần lớn dư luận nhắm vào trách nhiệm các quan chức thể thao, nhưng hình như chẳng ai chất vấn tính khoa học đằng sau những xét nghiệm doping của cơ quan chức năng thuộc Thế vận hội Olympic.

Sự nghiệp một vận động viên có thể kết thúc chỉ vì một kết quả xét nghiệm. Hội đồng y khoa của Thế vận hội Olympic công bố một danh mục hơn 200 loại thuốc thuộc chín nhóm hóa dược bị cấm sử dụng trong các kỳ thi đấu thể thao. Nếu kết quả xét nghiệm của một vận động viên cho thấy nồng độ các hóa dược này trong máu hay nước tiểu vượt quá một giá trị tham chiếu (hay vượt quá ngưỡng bình thường), sự nghiệp của vận động viên đó có thể bị gián đoạn, thậm chí kết thúc. Nếu vận động viên đã đoạt huy chương thì huy chương sẽ bị tước bỏ. Do đó, diễn giải kết quả xét nghiệm rất quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự nghiệp của vận động viên.

Vấn đề xác suất

Diễn giải kết quả xét nghiệm và phán quyết một vận động viên vi phạm hay không vi phạm sử dụng thuốc cấm (gọi tắt là doping) là một vấn đề xác suất. Thật vậy, trước một kết quả xét nghiệm, câu hỏi quan trọng là: với kết quả này, xác suất mà vận động viên vượt ngưỡng bình thường (tức doping) là bao nhiêu?

Xác suất này tùy thuộc hai thông số: tỉ lệ doping trong cộng đồng vận động viên và độ chính xác của phương pháp xét nghiệm. Không ai biết có bao nhiêu vận động viên dùng doping, nhưng các chuyên gia có vẻ nhất trí rằng con số đó thấp hơn 5%. Độ chính xác của phương pháp xét nghiệm được thể hiện qua hai chỉ số: độ nhạy và độ đặc hiệu. Độ nhạy là xác suất mà phương pháp xét nghiệm cho kết quả dương tính nếu đối tượng thật sự dùng doping; độ đặc hiệu là xác suất mà phương pháp xét nghiệm cho kết quả âm tính nếu đối tượng thật sự không dùng doping.

Do đó, nếu độ nhạy là 90% sẽ có 10% sai (tức 10% vận động viên đích thực phạm tội dùng doping nhưng kết quả âm tính). Ngược lại, nếu độ đặc hiệu là 95% thì có 5% vận động viên vô tội nhưng bị xét nghiệm cho là dương tính. Trong thực tế và theo kinh nghiệm của người viết bài này, rất hiếm phương pháp xét nghiệm nào có độ nhạy và độ đặc hiệu trên 90%.

Lấy một ví dụ để minh họa cho vấn đề. Chẳng hạn trong cộng đồng thể thao có 5% vận động viên dùng doping, và phương pháp xét nghiệm có độ nhạy và độ đặc hiệu cao đến 95%. Nếu một vận động viên có kết quả dương tính thì xác suất mà vận động viên này thật sự dùng doping chỉ 50%. Ngay cả khi độ nhạy và đặc hiệu ở mức 99% (chưa từng thấy trong thực tế), xác suất có doping cũng chỉ 84%, tức chưa đủ độ tin cậy để phán quyết. Chúng ta cần phải có một xác suất 100% hay ít ra là 99,99% mới có thể kết luận doping chính xác.

Cả hai chỉ số độ nhạy và độ đặc hiệu phải được phát triển từ các thử nghiệm lâm sàng với một số lượng đối tượng lớn. Nhưng trong thực tế không ai biết cơ quan chức năng có thử nghiệm lâm sàng hay không và kết quả ra sao. Thật vậy, cho đến nay chúng ta vẫn không biết độ chính xác các phương pháp xét nghiệm mà cơ quan chức năng của Thế vận hội Olympic sử dụng là bao nhiêu. Đã có nhiều người chất vấn nhưng Cục Chống doping thế giới (World Anti-doping Agency - WADA) vẫn không công bố các dữ liệu này. Luật sư Howard Jacob (Mỹ), người biện hộ cho một vận động viên Mỹ bị kết tội sử dụng thuốc trái quy ước Thế vận hội, nhận xét về cách làm việc của WADA như sau: “Giống như một quy trình bí mật do họ dựng lên. Họ nói nếu ai đó có kết quả vượt một ngưỡng nào đó, xác suất dương tính giả là một phần tỉ, nhưng chúng ta chẳng bao giờ thấy dữ liệu nào làm cơ sở cho phán quyết đó”.

Dao động sinh học và gen

Tất cả các hormon và chỉ số sinh hóa trong cơ thể chúng ta dao động hằng ngày, hăng giờ, thậm chí hăng phút. Nghiên cứu của người viết bài này vừa công bố tháng qua cho thấy nồng độ hormon dao động rất lớn ở mỗi cá nhân và giữa các cá nhân. Chẳng hạn như hormon tăng trưởng (IGF1) trong máu của tôi hôm nay có thể là 100ng/l, nhưng ngày mai có thể là 80 hay 130ng/l, mặc dù tôi chẳng sử dụng thuốc kích thích nào. Đó là dao động sinh học bình thường trong mỗi cá nhân.

Ngoài ra, nồng độ IGF1 của tôi có thể rất khác với một người khác cùng độ tuổi đến hai hay ba lần, dù cả hai đều không sử dụng thuốc nào có ảnh hưởng đến IGF1. Đó là dao động giữa các cá nhân trong một cộng đồng. Điều này cho thấy việc xác định giá trị tham chiếu hay ngưỡng để phán quyết một kết quả xét nghiệm là bình thường hay bất bình thường cần phải điều chỉnh độ dao động của chính cá nhân đó và độ khác biệt tự nhiên giữa các cá nhân trong một cộng đồng. Không có giá trị tham chiếu, kết quả xét nghiệm chỉ là những con số vô nghĩa.

Nồng độ chu chuyển và bài tiết của các chỉ số sinh hóa chịu sự ảnh hưởng của gen. Trong một nghiên cứu vừa công bố, các nhà nghiên cứu Thụy Điển cho một nhóm đàn ông bình thường uống một liều lượng 500mg testosteron, sau đó vài ngày họ xét nghiệm nồng độ testosteron trong nước tiểu. Kết quả cho thấy có đến 40% không có dấu hiệu gia tăng testosteron, nhưng trong số 60% còn lại thì nồng độ testosteron tăng đến hai lần. Tại sao có sự khác biệt lớn như thế giữa các đối tượng? Vì số 40% đàn ông không tăng testosteron do họ mang trong người biến thể của gen UGT2B17. Phát hiện này cho thấy nếu không xét đến gen, kết quả xét nghiệm và diễn giải kết quả có thể rất sai lầm.

Trường hợp của Ngân Thương

Câu chuyện của Ngân Thương quả là một trường hợp đáng tiếc. Rất có thể Ngân Thương thiếu thông tin hay có cố vấn sai nên đã sử dụng thuốc làm giảm cân một cách không cần thiết, vì thí nghiệm trên ngựa cho thấy furosemide chỉ giảm cân khoảng 3-5%. Furosemide là loại thuốc dùng để điều trị bệnh suy tim và phù, có chức năng thúc đẩy mạnh việc bài tiết muối và nước từ thận. Từ năm 1988, furosemide nằm trong danh sách cấm sử dụng tại các cuộc thi đấu ở Thế vận hội Olympic. Thật ra Ngân Thương không phải là người đầu tiên bị phạt vì sử dụng furosemide, trước đây (tính từ Thế vận hội Seoul 1988) đã có sáu vận động viên vi phạm quy ước này.

Cho đến nay không ai biết các giá trị tham chiếu mà cơ quan chức năng của Thế vận hội sử dụng trong việc phán quyết Ngân Thương vi phạm doping, cũng không ai biết phương pháp xét nghiệm furosemide của cơ quan chức năng Thế vận hội 2008 chính xác ở độ nào. Cũng có thể Ngân Thương mang trong người một biến thể gen có liên quan đến quá trình chuyển hóa furosemide ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm.

Viết trên tập san khoa học Nature gần đây, giáo sư Berry cho rằng quy trình xét nghiệm và phán quyết của cơ quan chức năng về doping tại Thế vận hội Olympic là một cái hộp đen. Ông viết: “Đây là một cái hộp đen mà trong đó có những người nho nhỏ chạy vòng quanh, và chúng ta không biết họ làm gì. Chúng ta cần một không khí mới”.

Không thể chấp nhận một phán quyết mà không tìm hiểu tính khoa học đằng sau phương pháp xét nghiệm. Dù sao đi nữa, để công bằng cho Ngân Thương, chúng ta đòi hỏi cơ quan chức năng phải công bố kết quả và trình bày dữ liệu cho công chúng quốc tế biết quy trình và phương pháp khoa học trong xét nghiệm để vấn đề minh bạch hơn.

Bình luận Xem thêm
Bình luận (0)
Xem thêm bình luận