Khoa học Việt Nam: để thoát khỏi nhóm trung bình trong khu vực

NGUYỄN VĂN TUẤN 10/1/2012 11:01 GMT+7

TTCT - Khoa học Việt Nam đang ở đâu trên bản đồ thế giới? Thử điểm qua những thành quả trên các ấn phẩm khoa học được công bố trên những tập san quốc tế năm 2011.

Phóng to
Những đề tài nghiên cứu khoa học trở thành sản phẩm thương mại ở VN còn khá ít. Trong ảnh tại Xưởng nguyên liệu nghiên cứu sản xuất thuốc Pegnano - Công ty TNHH Công nghệ sinh học dược Nanogen, Khu công nghệ Cao, quận 9, TP.HCM - Ảnh: Thanh Đạm

Công bố quốc tế: thước đo năng suất khoa học

Sản phẩm của nghiên cứu khoa học có thể thể hiện qua ba hình thức: ấn phẩm khoa học, bằng sáng chế và đào tạo. Ấn phẩm khoa học ở đây chủ yếu là những bài báo cáo kết quả nghiên cứu được chấp nhận cho công bố trên các tập san có bình duyệt (peer review), nhưng cũng có thể kể cả sách chuyên khảo.

Nghiên cứu khoa học ngày nay đang chuyển dần đến những nghiên cứu có thể áp dụng trong thực tế hay thương mại hóa. Do đó, bằng sáng chế là một thước đo quan trọng để đánh giá khả năng ứng dụng và thương mại hóa khoa học. Một công trình nghiên cứu khoa học tốt có thể làm đề tài cho một số luận án tiến sĩ và thạc sĩ. Vì thế, sản phẩm của nghiên cứu khoa học, ngoài số ấn phẩm khoa học và bằng sáng chế, còn có thể kể đến số nghiên cứu sinh được đào tạo.

Tuy nhiên, một trong những “sản phẩm” quan trọng của nghiên cứu khoa học là số lượng ấn phẩm khoa học được công bố trên những tập san khoa học quốc tế (gọi tắt là “công bố quốc tế”).

Theo chuẩn mực chung trong cộng đồng khoa học, một công trình nghiên cứu mà chưa được công bố quốc tế thì chưa thể xem là hoàn tất. Công bố quốc tế, do đó, là một thước đo quan trọng không chỉ để đánh giá cá nhân nhà khoa học, mà tập hợp ấn phẩm còn dùng để đánh giá tình hình chung về hoạt động nghiên cứu khoa học. Đó cũng là một chỉ tiêu quan trọng nhất mà các chương trình xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế thường dựa vào để đánh giá thành bại.

Chẳng hạn như trong chương trình Trí tuệ Hàn Quốc thế kỷ 21 (Brain Korea 21), Chính phủ Hàn Quốc lấy số lượng và chất lượng ấn phẩm khoa học trên các tập san quốc tế làm chỉ tiêu để quyết định nên hay không nên tài trợ cho nghiên cứu khoa học. Ở nước ta, trong vài năm gần đây Bộ Khoa học - công nghệ cũng bắt đầu xem xét các công trình công bố quốc tế như một thước đo để quyết định tài trợ cho nghiên cứu khoa học.

Mỗi tháng có 93 công bố khoa học

Trong vài năm gần đây, chúng tôi đã tiến hành một số phân tích về ấn phẩm khoa học Việt Nam trên tập san quốc tế. Những phân tích này cho thấy số lượng bài báo khoa học từ Việt Nam có phần tăng trong mười năm gần đây nhưng chất lượng vẫn còn quá thấp, và phần lớn các công trình nghiên cứu vẫn còn lệ thuộc vào nước ngoài. Trong phân tích ngắn dưới đây, tôi sẽ điểm qua một số khía cạnh liên quan đến số lượng ấn phẩm, lĩnh vực nghiên cứu và các trung tâm nghiên cứu hàng đầu ở nước ta.

Về số lượng, tính từ đầu năm đến cuối tháng 11-2011, các nhà khoa học Việt Nam công bố được 1.028 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế. Tính trung bình mỗi tháng được 93 bài. Do đó, dự đoán trong năm 2011, con số ấn phẩm khoa học khoảng 1.120 bài. Nếu dự đoán này đúng thì số ấn phẩm khoa học năm 2011 thấp hơn so với năm 2010 (1.280 bài).

Nhìn lại dữ liệu năm năm qua, xu hướng số ấn phẩm có gia tăng nhưng chưa thấy một sự “đột phá”. Năm 1990 số bài báo khoa học từ Việt Nam trên các tập san quốc tế chỉ khoảng 250 bài. Đến năm 2005 con số này tăng lên khoảng 600 bài và đến nay khoảng 1.000 bài. Tính trung bình, trong vòng 20 năm qua số ấn phẩm khoa học tăng khoảng 13% mỗi năm. Tỉ lệ tăng trưởng này không cao hơn so với các nước trong vùng.

Con số ấn phẩm khoa học Việt Nam cần phải đặt trong bối cảnh toàn vùng để có một bức tranh đầy đủ hơn. Trong cùng thời gian (2011), Thái Lan công bố 4.244 bài báo (cao gấp 4 lần Việt Nam), Malaysia 5.363 (gấp 5 lần Việt Nam) và Singapore 7.296 (gấp 7 lần Việt Nam). Mỹ vẫn là nước có số ấn phẩm khoa học cao nhất thế giới với 265.159 bài trong năm 2011. Số ấn phẩm khoa học của Mỹ cao hơn hai lần so với số ấn phẩm của Trung Quốc, nước đang đứng thứ hai trên thế giới.

Một thước đo về chất lượng nghiên cứu là chỉ số ảnh hưởng (impact factor - IF) của tập san. Tập san có chỉ số ảnh hưởng trên 10 có thể xem là có ảnh hưởng lớn. Đại đa số ấn phẩm khoa học Việt Nam chỉ công bố trên những tập san có IF khoảng 1 đến 2. Con số này cho thấy các nghiên cứu khoa học của Việt Nam thường có chất lượng rất thấp, dưới trung bình khá xa.

Nhìn chung, số bài báo khoa học trong ngành y sinh học vẫn đứng đầu bảng với 241 công trình. Sau y sinh học là toán (131 bài), vật lý (123), hóa học (110). Các ngành khoa học thuộc vào nhóm “top 10” bao gồm khoa học vật liệu (77), khoa học môi trường (65). Phần lớn những bài báo trong ngành y sinh học của Việt Nam liên quan đến các công trình nghiên cứu y tế công cộng, rất ít những công trình nghiên cứu lâm sàng hay sử dụng công nghệ cao.

Có thể nói năng suất khoa học của các nhà khoa học Việt Nam còn rất thấp. Viện Khoa học công nghệ có 880 giáo sư và tiến sĩ (207 giáo sư và phó giáo sư và 673 tiến sĩ - số liệu 2008), nhưng năm 2011 chỉ công bố được 131 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế. Tính trung bình, gần bảy giáo sư và tiến sĩ mới công bố được một bài báo khoa học. Thật ra, trong suốt 20 năm (1991-2010), Viện Khoa học công nghệ chỉ công bố được 785 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế. Nói cách khác, tính trung bình mỗi nhà khoa học cần đến trên mười năm để công bố được một bài báo khoa học.

Việt Nam hiện có khoảng 7.751 giáo sư, phó giáo sư và tiến sĩ trong các đại học (số liệu năm 2008) nhưng năm 2011 chỉ có 1.028 bài báo khoa học. Do đó, tính trung bình tám giáo sư và tiến sĩ chỉ công bố được một bài báo khoa học trong vòng một năm. Ở Hàn Quốc, các đại học hàng đầu như Đại học Quốc gia Seoul, mỗi giáo sư trung bình công bố bốn bài một năm, cao hơn 30 lần so với Việt Nam.

Một điều đáng lưu ý nữa là khoảng 65% những công trình khoa học của Việt Nam trong năm 2011 là hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài. Ba nước có hợp tác khoa học nhiều nhất với Việt Nam là Nhật (chiếm 18% tổng số công trình khoa học), Mỹ (13%) và Pháp (12%). Trong cùng thời gian, tỉ lệ hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài của Thái Lan là 50%, nói cách khác họ tự lực gần phân nửa trong tất cả công trình nghiên cứu. Những số liệu này cho thấy nội lực khoa học của ta vẫn còn kém hơn các nước trong vùng.

Số ấn phẩm khoa học trên các tập san quốc tế trong năm 2011 của một số quốc gia

Nước

Năm 2011
(tính đến tháng 11)

Việt Nam

1.028

Thái Lan

4.244

Malaysia

5.363

Indonesia

865

Philippines

719

Singapore

7.296

Lào

87

Campuchia

103

Myanmar

37

Hàn Quốc

32.446

Úc

30.396

Pháp

44.836

Nhật

54.537

Trung Quốc

112.829

Mỹ

265.159

Lý thuyết là chính

Những phân tích trên đây cho thấy hoạt động nghiên cứu khoa học Việt Nam như thể hiện qua số ấn phẩm quốc tế chưa có một bước đột phá.

Số ấn phẩm khoa học có liên quan mật thiết với chỉ số kinh tế tri thức. Trong một phân tích trước đây, mười nước ASEAN có thể được chia thành bốn nhóm dựa trên số lượng và chất lượng của ấn phẩm khoa học. Singapore là nước dẫn đầu với kết quả cao nhất, tiếp đó là nhóm thứ hai gồm Thái Lan và Malaysia, kế đến là Việt Nam, Indonesia và Philippines với thành tích trung bình; nhóm thấp nhất về kết quả nghiên cứu khoa học gồm Campuchia, Lào, Myanmar và Brunei. Với tốc độ hiện nay, rất khó để Việt Nam vượt ra khỏi nhóm 3 để tiến đến nhóm 2 trong khối ASEAN.

Phân tích chi tiết hơn về lĩnh vực nghiên cứu phản ánh những nhóm chính như sau: những nước phát triển mạnh về kinh tế thì có kết quả nghiên cứu tốt về kỹ thuật công nghệ cao và công nghệ sinh học (Singapore, Thái Lan và Malaysia), trong lúc những nước nghèo hơn (Việt Nam, Indonesia, Lào, Campuchia, Philippines) thì có thành tích cao về những lĩnh vực “công nghệ thấp” như y tế công cộng.

Do cơ sở hạ tầng cho hoạt động khoa học yếu kém, hầu hết dự án nghiên cứu ở Việt Nam tập trung vào những lĩnh vực lý thuyết hoặc “công nghệ thấp” như toán cơ bản và vật lý lý thuyết. Singapore đã và đang đầu tư mạnh cho nghiên cứu và phát triển với ngân sách chiếm 1,9-2,5% GDP trong khoảng năm 2000 đến 2007, và đã xây dựng được mối quan hệ gắn bó giữa giới nghiên cứu học thuật với các doanh nghiệp. Hệ quả là thành tựu nghiên cứu của Singapore phần lớn do đóng góp của nghiên cứu ứng dụng và công nghệ như kỹ thuật và công nghệ nano.

Chỉ trong vòng 20 năm, Hàn Quốc và Singapore đã trở thành cường quốc bậc trung về khoa học với nhiều đại học và trung tâm nghiên cứu khoa học hàng đầu. Chúng ta đặt mục tiêu năm 2020 là hoàn thành công nghiệp hóa với kinh tế tri thức, nghĩa là chỉ còn chín năm nữa để thực hiện mục tiêu này, trong khi vị trí khoa học còn quá thấp. Nếu không có một sự đổi mới mang tính cách mạng trong chính sách tài trợ và quản lý nghiên cứu khoa học, e rằng vị thế của khoa học Việt Nam sẽ không thay đổi đáng kể trong vòng mười năm tới.

Bình luận
    Viết bình luận...