80 năm những bài ca ái quốc: Thời cuộc và tâm thế nghệ sĩ

NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ 30/08/2025 02:34 GMT+7

TTCT - Không gian của cuộc Cách mạng Tháng Tám được nới rộng bằng nhiều phương tiện tuyên truyền đắc lực, mà nổi bật là ca khúc ái quốc như một lực lượng khích lệ tinh thần cách mạng.

Dòng chảy ca khúc ái quốc làm nên lời hiệu triệu khổng lồ này của cuộc cách mạng, trên thực tế đã được chuẩn bị sôi sục suốt một thập niên trước đó - từ những năm 1930, thời kỳ đầy biến động xã hội và chính trị.

80 năm những bài ca ái quốc: Thời cuộc và tâm thế nghệ sĩ - Ảnh 1.

Những bài tân nhạc đầu tiên được in trên báo Ngày Nay trong năm 1938

Từ những cao trào vận động dân chủ…

Thập niên 1930 là một cuộc thử nghiệm khổng lồ cho những phong trào vận động hiện đại hóa và hơn nữa là các phong trào cách mạng. 

Nền thuộc địa đã áp đặt ở Đông Dương được 60 năm, nảy sinh các mâu thuẫn trong xã hội và nhất là các đòi hỏi thay đổi thể chế thuộc địa. 

Tuy nhiên từ giữa thập niên 1930, diễn biến ở chính quốc và trên thế giới có những ảnh hưởng lớn và tương tác mật thiết với tình hình thời sự tại Việt Nam.

Dưới tác động của phong trào Mặt trận Bình dân Pháp, Mặt trận Dân chủ Đông Dương, tạo ra liên minh giữa các tổ chức Mác-xít và các lực lượng dân tộc chủ nghĩa mới hình thành. Các hội đoàn công khai như Hội Truyền bá quốc ngữ (thành lập 29-7-1938) nhắm tới người nghèo thất học hay các đoàn hướng đạo trong học sinh và thanh niên, đã trở thành cơ hội lan truyền thông điệp chính trị hiệu quả.

Một trong những nghi thức và phương tiện tuyên truyền cho các hội đoàn này chính là các bài hát hành khúc. Bên cạnh bài quốc ca Pháp, La Marseillaise, ra đời năm 1792. Những người cộng sản quốc tế cũng tạo ra phiên bản của họ với bản l'Internationale (Quốc tế ca), được dịch ra hàng chục ngôn ngữ, và từng là quốc ca của nước Nga Xô viết cho đến năm 1944.

Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước kể lại về thời thơ ấu ở Ô Môn (Cần Thơ) đầu thập niên 1930 đã được một em bé người Hoa hát bài Nghĩa dũng quân tiến hành khúc, bài hát nổi bật nhất của phong trào kháng Nhật ở Trung Quốc, cũng như đọc được một bản lời Việt có tên Trưng nữ vương đặt cho bản nhạc quốc ca Pháp. 

Những lời ca gợi nhớ về Hai Bà Trưng chống quân Hán xâm lược lan truyền một ý niệm về dân tộc chủ nghĩa mạnh mẽ trong bối cảnh thuộc địa: "Huyết khí ở đâu người Nam! Để chúng múa gậy vườn hoang! Đầu đen, máu đỏ, khác chi thú cầm. Ai ơi là giống Lạc Hồng!".

Thậm chí như nhạc sĩ Phạm Duy nhớ lại, một bài đồng dao thiếu nhi Pháp quen thuộc là Frère Jacques cũng được các nhà giáo đặt lời: "Hời hợi đồng bào. Tỉnh dậy mau. Nước ta đã mất rồi…".

Ngày 1-5-1938, tại cuộc mít tinh công khai ở Đấu xảo Hà Nội, Quốc tế ca đã được hát trong đám đông 25.000 người tham dự. Tờ Ngày Nay của Tự lực văn đoàn đã tường thuật lại, nhắc đến Quốc tế ca với một giọng điệu hồ hởi. Cũng chính Tự lực văn đoàn đã đứng sau ủng hộ cho cuộc ra mắt của các bài tân nhạc do người Việt sáng tác vào cùng thời gian.

Ngày 9-6-1938 tại hội quán Trí Tri (47 Hàng Quạt), cuộc diễn thuyết của nhạc sĩ trẻ người Huế Nguyễn Văn Tuyên đã được tổ chức, tạo tiếng vang và cú hích cho việc công bố các bài hát. 

Bài hát đầu tiên được Ngày Nay đăng là Bình minh (nhạc Nguyễn Xuân Khoát, lời Thế Lữ), bắt đầu với ca từ : "Chờ đợi bình minh, hồn non nước đang âm thầm sống trong gió sương". "Non nước" hay "Lạc Hồng" trở thành những từ khóa, tạo nên một đường dẫn cho ý niệm về đất nước, dân tộc.

Bài tân nhạc đầu tiên được in là Nghề cinéma (nhạc Trần Ngọc Quang, lời Nguyễn Vinh Lan - Lê Vũ Thái), dùng cho một vở kịch của Hội kịch Bắc Kỳ vào năm 1934 đã được đặt lời mới vào năm 1938 và đăng trên báo Ngày Nay với tên gọi Đường trường: "Đường xa xăm, chí ta kiên! Tươi cười chớ phiền, vui mà hát liền. Dù gian lao, quyết đi lên! Ta cùng hát cùng đi luôn lên!" (lời Phạm Văn Xung).

80 năm những bài ca ái quốc: Thời cuộc và tâm thế nghệ sĩ - Ảnh 2.

Lưu Hữu Phước (quần lụa trắng ở giữa) cùng các bạn học ở khu nhà ở sinh viên đạp xe về thăm các di tích lịch sử ở miền Bắc, khoảng 1940-1943

Trong khi đó, ở các nhà tù thực dân, những người cộng sản lan truyền bài hát Cùng nhau đi hồng binh (Đinh Nhu), phổ biến trong cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh: "Cùng nhau đi hồng binh, đồng tâm ta đều bước, ta quyết chí hy sinh! Nào anh em nghèo đâu, liều thân cho đời sống. Mong thế giới đại đồng tiến lên quân hồng!".

Các lời ca đều lặp lại những từ khóa "cùng nhau", "đồng tâm", "tiến lên", "quyết chí", cho dù trong bối cảnh nào. 

Cơ hội ứng dụng các phương tiện hiện đại đã khơi nguồn cho ca khúc theo phong cách Tây phương, hòa hợp với xu thế hiện đại hóa trong cách biểu đạt, song hành cùng báo chí ("tân văn"), văn học chữ quốc ngữ như tiểu thuyết và Thơ Mới. 

Và rồi, biến cố Chiến tranh thế giới thứ hai đã thành một cơ hội cho các bài hành khúc ái quốc trỗi dậy.

…đến lời kêu gọi tiến lên đàng

Mặt trận Bình dân Pháp tan rã vào giữa năm 1938, phe cộng sản bị loại khỏi chính phủ. Tháng 9-1939, Đức tấn công Ba Lan, Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu. Nước Pháp thất bại và đầu hàng Đức quốc xã ngày 22-6-1940, lập chính phủ đóng tại Vichy. Ba ngày sau, tại Đông Dương, đô đốc Jean Decoux được chỉ định làm Toàn quyền, thi hành các chính sách của chính phủ Vichy, cấm các tổ chức xã hội hoạt động và tiến hành khủng bố trắng các cơ sở đảng phái của người Việt. 

Tháng 11-1940, khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra nhưng mau chóng bị đàn áp, một loạt yếu nhân của Đảng Cộng sản Đông Dương bị bắt, bị đưa đi đày ở Côn Đảo và xử tử. Chính sách kiểm soát xã hội của chính quyền thực dân làm tăng thêm mối bất bình trong dân chúng, nhất là giới sinh viên, học sinh có điều kiện tiếp cận những đợt sóng tư tưởng giải phóng trong cao trào Mặt trận Dân chủ vài năm trước. 

Nhà tù thuộc địa trở thành cơ sở đào tạo cách mạng khổng lồ, môi trường nuôi dưỡng những nhận thức hiện đại về chính trị trong người Việt. Trong bối cảnh đó, nhà trường, các nhóm hướng đạo trong thanh niên, nhà tù và các nhóm chính trị bí mật chính là các môi trường ra đời các bài hành khúc ái quốc.

Trường Đại học Đông Dương, đỉnh của hệ thống giáo dục Pháp - Việt, là một cơ sở sôi động của các hoạt động tập thể, bề ngoài hô ứng với chương trình "cách mạng quốc gia" và các khẩu hiệu "khỏe để phụng sự". Việc hình thành Tổng hội Sinh viên từ tháng 12-1935 và nhất là Ban âm nhạc từ năm 1940 đã đem lại một cơ hội cho các bài hát tập thể. 

Với nòng cốt là nhóm bạn học quanh Lưu Hữu Phước, sinh viên ngành y từ miền Nam ra, Ban âm nhạc đã là nơi cho ra đời những bài hát chủ đề "thanh niên - lịch sử" của Lưu Hữu Phước, gắn với phong trào đạp xe về thăm các di tích lịch sử trên đất Bắc: Bạch Đằng giang, Ải Chi Lăng, Hát giang trường hận và nhất là bài hát chính thức của Tổng hội Sinh viên Đại học Đông Dương, ra đời vào tháng 5-1941 trên căn gác số 60 Wiélé (nay là Tô Hiến Thành, Hà Nội).

Bài hành khúc ban đầu viết bằng tiếng Pháp mang tên La marche des étudiants do Mai Văn Bộ và Nguyễn Thành Nguyên soạn, sau đó vào năm 1942 đã được tổ chức cuộc thi viết lời Việt, và cuối cùng hình thành một bản lời của Đặng Ngọc Tốt và Lê Khắc Thiền và dùng cái tên Tiếng gọi sinh viên của Lê Khắc Thiền. 

Một số sinh viên khác có những bài hát chủ đề tương tự như Việt Nam bất diệt, Việt Nam trên vạn vật (Hoàng Gia Lịnh). Hầu hết các lời ca đều xưng tụng những biểu tượng cổ xưa và nhiều nét trang trọng, nêu lên những chất vấn về thực tại và kêu gọi hiệp đoàn: "Tiến lên, đồng tiến! Chớ quên ta là giống Lạc Hồng!".

80 năm những bài ca ái quốc: Thời cuộc và tâm thế nghệ sĩ - Ảnh 8.

Các sinh viên đã đối phó với chính sách kiểm duyệt của chính quyền thực dân bằng cách tạo ra các phiên bản lời khác nhau, nhưng cùng đề cập đến các ý niệm Tổ quốc, nòi giống hay sứ mệnh thanh niên. 

Các nhạc sĩ trẻ trong nhóm Đồng vọng có gốc ở Hải Phòng, dưới sự dẫn dắt của Hoàng Quý, cũng là một trưởng tráng đoàn hướng đạo, đã cho ra đời một loạt bài hát như Trên sông Bạch Đằng, Chiều buồn trên sông Bạch Đằng (Hoàng Quý), Ngày xưa (Hoàng Phú), Hò kéo gỗ Bạch Đằng giang, Thăng Long hành khúc ca, Gò Đống Đa (Văn Cao), Hồn Nam tướng (Lê Xuân Ái, lời Nguyễn Văn Nghiêm)… 

Họ kết nối với Ban âm nhạc Tổng hội Sinh viên qua một số bài hát Hoàng Quý viết lời cho âm nhạc của Lưu Hữu Phước như Vui xuân, Bạn đường, cổ vũ cho sự tập hợp lực lượng và đoàn kết thanh niên.

Các nhạc sĩ ở Hà Nội cũng góp mặt những bài hát chủ đề thanh niên - lịch sử như Hùng Vương, Thanh niên (Thẩm Oánh) hay một số hành khúc cho các hội đoàn, trường học song không có nhiều ảnh hưởng.

Trong các nhà tù thực dân và lan truyền trong các phong trào bí mật là các bài hát có tính chiến đấu trực diện của Côn Đảo, Hận Sơn La, Chiều tù (Đỗ Nhuận), Cờ Việt Minh (Vương Gia Khương)… 

Tuy nhiên, các bài hát của Lưu Hữu Phước hay nhóm Đồng Vọng có được đời sống công khai và làm nên ấn tượng thẩm mỹ trong giới thanh niên, học sinh rộng rãi, đặc biệt khi Lưu Hữu Phước dưới ảnh hưởng của những người bạn có xu hướng Mác-xít như Huỳnh Văn Tiểng, Dương Đức Hiền (chủ tịch Tổng hội Sinh viên giai đoạn 1943-1945)… có ý thức tạo ra một "hệ sinh thái" của đối tượng vận động: Thiếu niên (Bài hát của thiếu sinh), thanh niên (Tiếng gọi sinh viên hay Tiếng gọi thanh niên), phụ nữ (Bài hát của thiếu nữ Việt Nam), người lớn tuổi (Hội nghị Diên Hồng), truyền bá quốc ngữ (Gieo ánh sáng) và nhất là trong thời điểm chiến tranh lan rộng, nhà trường đóng cửa, họ kêu gọi sinh viên "Xếp bút nghiên", "Lên đàng" và "Mau về Nam".

Trở về miền Nam, Lưu Hữu Phước cùng Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng lập nhóm Hoàng Mai Lưu, xuất bản các bản nhạc và tham gia các hoạt động mang tính chính trị. Một tổ chức có vị thế công khai sử dụng các bài hát của họ là Thanh niên tiền phong, góp phần đưa các bài hát này trở thành phương tiện tập hợp lực lượng nổi bật nhất lúc bấy giờ.

Từ năm 1944, miền Bắc chịu đựng nạn đói trên diện rộng. Nhưng đó cũng là lúc các tổ chức của Việt Minh đẩy mạnh tuyên truyền trong quần chúng về việc hình thành các liên minh giành chính quyền, đáng chú ý là Hội Văn hóa cứu quốc năm 1943. Và bản Đề cương về văn hóa Việt Nam do Trường Chinh soạn thảo.

Nhạc sĩ trẻ Văn Cao, mặc dù đã có những sáng tác âm nhạc và một số bức tranh được chú ý sau thời kỳ học dự thính ở trường Mỹ thuật Đông Dương, song lúc đó vẫn là một nghệ sĩ nghèo vô danh, hằng ngày lang thang trên đường phố Hà Nội. 

Sau cuộc tiếp xúc của một đàn anh hướng đạo gốc Hải Phòng là Vũ Quý, giờ là một cán bộ Việt Minh, Văn Cao tham gia hoạt động bí mật và được giao viết một bài hát cho "khóa quân chính kháng Nhật sắp mở trên chiến khu". Tháng 11-1944, bài hát Tiến quân ca ra đời trên căn gác 171 Mongrand (nay là 45 Nguyễn Thượng Hiền, Hà Nội).

Như Văn Cao đã nhớ lại, chàng nghệ sĩ trẻ chưa từng biết chiến khu, chưa biết lực lượng quân sự cách mạng ra sao, song đã tưởng tượng ra hình ảnh một đoàn quân "chung lòng cứu quốc" trong khung cảnh những bóng người chết đói trên đường phố Hà Nội.

Cùng thời gian, sinh viên ngành luật Nguyễn Đình Thi cho ra đời bài Diệt phát xít, kêu gọi tấn công vào kẻ thù trước mắt. Đi xa hơn các bài hành khúc đã có, cả hai bài hát mới đều vang lên thông điệp vũ trang với lời ca đầy nộ khí: "Thề phanh thây uống máu quân thù! Tiến mau ra sa trường, cùng thét lên! Chí trai là đây nơi ước nguyền" và "Diệt phát xít, giết bầy chó đê hèn của chúng… Ta tiến lên, ta tiến lên tiêu diệt quân thù".

80 năm những bài ca ái quốc: Thời cuộc và tâm thế nghệ sĩ - Ảnh 6.
80 năm những bài ca ái quốc: Thời cuộc và tâm thế nghệ sĩ - Ảnh 7.

Nhạc sĩ Văn Cao năm 1947-1949 ở Việt Bắc (trái) và nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi. Ảnh của Trần Văn Lưu, trong tập Văn nghệ và kháng chiến, NXB Kim Đồng, 2018

Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương và kiểm soát gắt gao truyền thông. Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị "Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta", xúc tiến các hoạt động bí mật ở các địa phương. Hà Nội và Hải Phòng trở thành địa bàn cho các hoạt động của Đoàn Thanh niên tuyên truyền xung phong thành Hoàng Diệu, thành Tô và Đội danh dự Việt Minh - một tổ chức bán vũ trang mà Văn Cao chính là người tham gia. 

Một bài hát của Văn Cao là Bài ca chiến sĩ Việt Minh, sau này đổi tên là Chiến sĩ Việt Nam, gần như là chân dung của lớp thanh niên tham gia cách mạng với tư duy ảnh hưởng của các hình mẫu tráng sĩ ca cổ điển trong Chinh phụ ngâm hay các bài cổ thi: "Bao chiến sĩ anh hùng lạnh lùng vung gươm ra sa trường. Quân xung phong, nước Nam đang chờ, mong tay người hồn sông núi khí thiêng ghi muôn đời… Mong xác trong da ngựa bọc thân thể trai".

Đặc điểm này bao trùm các bài hát ái quốc cùng thời như Hồn Việt Nam (Bùi Công Kỳ, lời Nguyễn Xuân Kim, Anh Vũ, 1944), Việt Nam minh châu trời đông, Rạng đông (Hùng Lân) hay Khúc khải hoàn (Nguyễn Mỹ Ca & Lưu Hữu Phước, 1945). 

Gắn với thực tế hơn là Du kích ca (Đỗ Nhuận) và Phất cờ Nam tiến (Hoàng Văn Thái, liên quan đến các đội quân du kích và đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân, thành lập ngày 22-12-1944 ở Cao Bằng.

Đây chính là những ca khúc bản lề vào thời điểm Tổng khởi nghĩa, tham gia diễn ngôn về độc lập, tự do, thậm chí mang tính khẳng định như "Tiến lên nền dân chủ cộng hòa, giành lại áo cơm tự do" (Diệt phát xít) khi tác giả Nguyễn Đình Thi là thành viên trẻ nhất tham gia Quốc dân đại hội tại Tân Trào năm 1946. 

Tại đây, Chính phủ cách mạng lâm thời đã chọn Tiến quân ca làm quốc ca, tạo ra hình mẫu cho thể loại hành khúc ái quốc sau này, một vị thế mà bài La Marseillaise đã làm được ở quy mô toàn cầu.

Sự hình thành khuôn mẫu

Ngay sau khi Tổng khởi nghĩa thành công tại Hà Nội, bài hát Mười chín tháng Tám (Xuân Oanh) ra đời, khởi đầu cho một truyền thống bài hát thời sự sẽ tiếp diễn suốt bốn thập niên sau đó: "Mười chín tháng Tám khi quốc dân căm hờn kêu thét, Đứng lên cùng hô mau diệt tan hết quân thù chung". 

Bản thân Tiến quân ca khi được chỉnh sửa lời từ "Đoàn quân Việt Minh đi" thành "Đoàn quân Việt Nam đi" cũng như một số câu khác là nhằm mục đích điển hình hóa và khuôn mẫu hóa chủ thể hành động cho toàn dân một đất nước mới.

Các bài hát ái quốc được xuất bản và trở thành các bài hát ăn khách như Đoàn Vệ quốc quân, Tuyên truyền xung phong (Phan Huỳnh Điểu, 1945) hay các tiết mục của đoàn quân nhạc như Hồn tử sĩ (tức Hát giang trường hận), Khỏe vì nước (Hùng Lân), Vũ khúc tưng bừng (Lương Ngọc Trác), Xuất quân (Phạm Duy).

Phan Huỳnh Điểu đã kể ông chủ nhà sách Tân Hoa (Huế) là Tăng Duyệt đã mua bản quyền bài Giải phóng quân (tên đầu tiên của bài hát Đoàn Vệ quốc quân) 800 đồng, do đánh giá được nhu cầu rất cao từ công chúng thời điểm đất nước vừa độc lập. Đồng thời ông chủ nhà sách cũng bắt đầu sự nghiệp xuất bản nhạc tờ lẫy lừng suốt một thập niên sau đó với Nhà xuất bản Tinh Hoa bằng những bài ca ái quốc của Phan Huỳnh Điểu, Nguyễn Văn Thương, Vân Đông, Nguyễn Hữu Ba…

Bối cảnh các cuộc chiến tranh sau đó đã tạo ra một nhu cầu thưởng thức các bài hát ái quốc, nhất là khi được xuất bản trên báo chí, tờ nhạc, biểu diễn và thu âm, đặc biệt vào năm 1945-1946 - các diễn biến thời cuộc đã chi phối tâm thế dân chúng. Một thiết chế quan trọng là Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, ra đời ngày 7-9-1945, cơ quan ngôn luận tuyên truyền các thông tin của Nhà nước, trở thành kênh phát các sản phẩm tân nhạc cổ động cho chính thể.

Việc hình thành các cơ sở xuất bản và phát thanh âm nhạc đã tạo ra sự tiêu chuẩn hóa các bài hát với thời lượng ngắn gọn, giai điệu dễ nhớ và lời ca nhiều chất thơ, dễ đi vào lòng người. Những bài hát ái quốc của hai năm đầu Việt Nam dân chủ cộng hòa chưa có nhiều thông điệp Mác-xít và thiên về đề tài công - nông rõ rệt. 

Chúng vẫn mang đậm chất tráng sĩ ca, tuyên xưng một hình tượng đất nước và dân tộc nhiều nét sử thi, đặc biệt khi gắn với các lực lượng vũ trang non trẻ: Uất hận (Nguyễn Xuân Khoát), Cảm tử quân (Hoàng Quý), Chiến sĩ vô danh (Phạm Duy), Nhớ chiến khu, Quốc hội ca (Đỗ Nhuận), Bắc Sơn, Bài ca chiến sĩ hải quân, Không quân Việt Nam (Văn Cao)…

80 năm những bài ca ái quốc: Thời cuộc và tâm thế nghệ sĩ - Ảnh 4.

Nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát. Ảnh của Trần Văn Lưu, trong tập Văn nghệ và kháng chiến, NXB Kim Đồng, 2018

Sức ảnh hưởng của ngữ liệu cổ điển rất đậm nét, ngay trong những bài hát viết ở Nam Bộ như Đoàn quân du kích (Lưu Hữu Phước), Nam Bộ kháng chiến (Tạ Thanh Sơn), Chiều trong rừng thẳm, Tự do (Anh Việt, là những bài hát của tác giả này viết khi đi kháng chiến ở vùng Tây Nam Bộ). 

Bài hát đầu tiên ca ngợi lãnh tụ là Biết ơn Hồ Chí Minh (Lưu Bách Thụ) cũng đặt ra nét khắc họa đầy tính huyền thoại: "Dân Nam ơi biết ơn Cụ Hồ đời đời. Bao nhiêu năm sống trong nguy nan điêu linh… Đầy trang sử ký người trong nước chép ghi truyền lưu, Việt Nam thầm mến Hồ Chí Minh dày đức ơn nhiều".

Số phận các bài hát ái quốc, đặc biệt là các bài hành khúc, đã ra đời đúng lúc lịch sử cần một phương tiện truyền thông mới có khả năng lan tỏa các thông điệp giải phóng dân tộc mạnh mẽ trong công chúng. Ngay từ sớm, hành khúc đã được nhìn nhận như một thể loại làm cho con người "mạnh mẽ phấn chấn", có tác dụng làm người ta muốn "nở rộng phổi ra, như nâng cao người lên" (Nam Kiều, "Ca nhạc Tây và ca nhạc ta", Đông Pháp Thời báo 4-3-1925), song phải đến khi một môi trường chính trị trưởng thành và các hệ tư tưởng bám rễ sâu rộng trong cộng đồng, các sản phẩm mới phát huy giá trị. 

Chúng sẽ trở thành nền tảng cho dòng nhạc cách mạng ở miền Bắc thời chống Mỹ, các bài hát ở chiến khu miền Nam cũng như ghi dấu ấn trong những bài hát của phong trào "Hát cho dân tôi nghe" của học sinh sinh viên đô thị miền Nam. 

Sự khác biệt trong mục đích vận dụng và sắc thái biểu đạt ý thức hệ sẽ khiến công chúng mỗi vùng văn hóa tiếp nhận không giống nhau, cho dù chúng đã khởi phát từ cùng một tình tự yêu nước.

Nhà nghiên cứu âm nhạc người Mỹ Jason Gibbs đã nhận xét: "Tiến quân ca là một thành tố quyết định của huyền thoại mới được tạo ra cho Việt Nam". Đó là huyền thoại được tạo ra từ phức hợp "thần thoại - biểu tượng" (myth-symbol) như định nghĩa của Anthony D. Smith trong The Ethnic Origins of Nations (Nguồn gốc dân tộc của các quốc gia), nơi cộng đồng tìm được sức mạnh từ sự kết nối với truyền thống, như hầu hết các bài hành khúc ái quốc trước Tiến quân ca, nhất là các bài hát chủ đề lịch sử mà chính Văn Cao là một đại biểu quan trọng. Huyền thoại mới này đã đặt niềm tin vào thực lực của con người hiện đại, với "bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa" và những chiến tích thời sự: "vũ trang đâu lên đường, Bắc Sơn cùng Đô Lương, Thái Nguyên".

Bình luận Xem thêm
Bình luận (0)
Xem thêm bình luận