TTCT - Một nền kinh tế đi lạc vào con đường mà dòng tiền chỉ chảy tới những thứ dễ bán dễ mua, dễ đầu cơ tăng giá, cũng sẽ dễ đi đến kết cục số ít người rất giàu, tầng lớp trung lưu bấp bênh, nhỏ bé, và người nghèo càng ít cơ hội. Sản xuất chế tạo vẫn là lĩnh vực tạo ra được nhiều công ăn việc làm với thu nhập ổn định nhất. Ảnh: Reuters Chiến lược đầu tư nước ngoài mang tính hướng xuất khẩu đầu tiên của Việt Nam là dự án triển khai 3 khu chế xuất - một hình thức đặc khu kinh tế ưu đãi thoải mái nhất cho nhà đầu tư nước ngoài. Kế hoạch này được hy vọng sẽ là đầu tàu cho quá trình công nghiệp hóa của đất nước, đã được hoạch định từ năm 1991-1994, sau khi Luật Đầu tư nước ngoài ra đời.Tân Thuận ở Nhà Bè (TP.HCM), An Đồn ở gần cảng Tiên Sa, Sơn Trà (Đà Nẵng), và Nomura ở Hải Phòng đều là những nơi đắc địa cho phát triển công nghiệp ở ba miền Nam, Trung, Bắc. Sau 40 năm, An Đồn thành khu công nghiệp An Đồn diện tích 50ha, tức bằng khoảng 10 nhà máy cỡ trung bình, rồi sau đó, chuyển đổi công năng thành… khu phố tài chính. Nomura cũng không thành công, sau đó biến thành một khu công nghiệp nhỏ của Nhật Bản. Lịch sử FDI Việt Nam thuở khai sinh, do đó, chỉ thành công ở khu vực phía Nam với Tân Thuận, nơi không có lợi thế sẵn về hạ tầng, nhưng có đội ngũ quản lý có tầm và có tâm của nhóm Thứ Sáu nổi tiếng.Những bài học từ người NhậtNgay thời điểm ban đầu đấy, với nhà đầu tư từ Đài Loan, Hong Kong, họ hướng đến một thị trường thâm dụng lao động, những đại nhà máy may giày và kết áo sơ mi, những sản phẩm mà Việt Nam dư thừa năng lực về đơn giá gia công lẫn lực lượng lao động để cạnh tranh với Trung Quốc.Còn Nhật Bản, họ hướng tới một thị trường tiêu dùng lớn đang thiếu nguồn cung và sẵn sàng chi trả cho gần như mọi thương hiệu từ Nhật Bản. Thời điểm FDI bắt đầu vào Việt Nam cũng chính là lúc sức mua nội địa vừa được cởi trói, từ thị trường… nông thôn. Nông nghiệp phát triển nhờ sản xuất nhỏ hộ gia đình và xuất khẩu tạo nên dòng tiền đều đặn để mỗi gia đình tích lũy đủ cho những ước mơ vài năm trước là xa xỉ: xe máy, tivi, tủ lạnh, máy giặt, máy điều hòa. Những thứ này, người Nhật làm rất tốt và có sẵn niềm tin thương hiệu quá khứ trong lòng người tiêu dùng Việt Nam. Thị trường điện gia dụng Việt Nam đầu những năm 2000, do vậy, phát triển ngược so với thế giới. Ban đầu, các hộ gia đình mua xe máy Honda, tivi Sony, tủ lạnh Toshiba, máy giặt Sanyo… với tiêu chuẩn Nhật Bản, và giá cả cũng chuẩn Nhật Bản. Sau đó mới tới lượt thị trường cho tivi Samsung, LG của Hàn Quốc, hoặc vẫn là Toshiba, Sanyo, nhưng đã thuộc về Trung Quốc.Việt Nam có thể coi là quốc gia cuối cùng trên thế giới mà ngành sản xuất sản phẩm điện tử gia dụng của Nhật Bản đạt được đỉnh cao - trước khi họ nhường lại, hay chấp nhận thua cuộc, trước tư duy mới của Hàn Quốc về mẫu mã và tốc độ cải tiến và giá cả của Trung Quốc. Quá trình cuối của vinh quang đấy, người Nhật làm cho ngành sản xuất công nghiệp Việt Nam vỡ ra được nhiều điều và những bài học, cả ngọt ngào lẫn đắng cay. Họ chỉ cho chúng ta về quản lý, đào tạo, vận hành nhà máy, kiểm soát dây chuyền, tồn kho, xây dựng chuỗi cung ứng… Nhiều điều được người Việt học hỏi, nhiều thứ phải trả giá, trong tất cả những thứ đấy, không có… công nghệ!Cụ thể, một công ty sản xuất thiết bị gia dụng của Nhật Bản sẽ nhập khẩu từ một công ty thương mại Nhật Bản qua một công ty thương mại cũng của Nhật Bản tại Việt Nam, trước khi hàng đến kho. Hai lần mua đi bán lại đấy, giải quyết được bao nhiêu là vấn đề về nâng giá, chuyển giá, vấn đề mà hải quan và thuế vụ Việt Nam không có nhiều kinh nghiệm cho đến đầu những năm 2000, tức hơn 10 năm tính từ khi Luật Đầu tư nước ngoài đi vào thực tế.Ai dẫn dắt công nghệ?Trong quá trình công nghiệp hóa dựa vào FDI 40 năm qua ở Việt Nam, khó thấy bóng dáng của một nhà tổ chức, định hướng kiểu như Cục Công nghiệp Nhật bản thời Minh Trị hay Hội đồng Kế hoạch kinh tế của Hàn Quốc thập niên 1960. Những thiết chế này có vai trò dẫn dắt nền công nghiệp chế tạo quốc gia đi lên theo từng bước: gia công đơn giản - gia công phức tạp - lắp ráp cấu kiện - lắp ráp thành phẩm, sản xuất nguyên liệu thô, và làm chủ công nghệ từng giai đoạn đấy.Các chính sách quy định về nội địa hóa và hỗ trợ doanh nghiệp trong nước không đến được với nhà sản xuất, và dễ dàng bị bóp nghẹt bởi yêu cầu ưu đãi, chống bảo hộ, từ nhà đầu tư FDI lớn, mà chính phủ đang cần hơn. Cơ hội và thành tựu lớn nhất của nền công nghệ quốc gia, có lẽ đến từ Honda, khi nhà máy sản xuất xe gắn máy này là điểm sáng đầu tư của Nhật Bản tại miền Bắc. Với sản lượng đủ lớn, lên đến hàng trăm ngàn chiếc mỗi năm, vào đầu những năm 2000, Honda Việt Nam hút cả nguồn lực sản xuất từ Nam ra Bắc, cho nhu cầu linh kiện nhựa, ốc vít, lò xo… những thứ đòi hỏi máy móc, công nghệ, kỹ thuật đo kiểm… ở mức tương đối phức tạp, để làm bàn đạp cho một bước cao hơn, là công nghệ ô tô.Tuy nhiên, Toyota Việt Nam, dự án nhà máy sản xuất ô tô lớn nhất của Nhật Bản tại Việt Nam, đã không là bước phát triển tiếp theo như nhiều người mong ước. Honda Việt Nam có nhu cầu nội địa hóa vì áp lực giảm giá từ xe máy Trung Quốc. Một chiếc Future - phiên bản kém hơn của chiếc Dream II thần thánh "made in Thái Lan", vào đầu những năm 2000, có giá 24 triệu đồng, tương đương 2 cây vàng lúc đấy, trong khi Centi hay Hongda chỉ xấp xỉ 10 triệu đồng. Honda Việt Nam buộc phải ra mắt phiên bản rẻ nhất: Wave Alpha 12-15 triệu, nhằm bảo vệ phân khúc thị trường bình dân nhưng có tỉ trọng cao nhất.Giảm giá bằng đơn giản hóa thiết kế, hạ giá linh kiện đầu vào, và giảm luôn cả lợi nhuận khủng mà trước đó họ đã thêm vào rất nhiều cho chiếc Future. Cơ hội để nhà sản xuất Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng xe gắn máy của Honda lúc đấy là rất rõ ràng và hấp dẫn, khi nó được cộng thêm diễn ngôn dân tộc: chiếc xe máy của người Việt.Nền kinh tế hướng xuất khẩu của Việt Nam đang cần tăng cường nội lực. Ảnh: ReutersNhưng với Toyota và ngành chế tạo ô tô, điều đó đã không xảy ra, vì Toyota không muốn, vì không có một sức ép đủ mạnh từ chính phủ Việt Nam, và cả vì khát vọng không đủ lớn của các doanh nghiệp Việt.Thành tích chủ yếu của nhà cung cấp nội địa thuần Việt trong chuỗi cung ứng của Toyota Việt Nam là linh kiện nhựa của công ty Nhựa Hà Nội, linh kiện dập của doanh nghiệp Lê Hiệp… Ngay cả những doanh nghiệp này, để có hàng giao đảm bảo chất lượng đến Toyota Việt Nam, đã cần người Nhật làm công việc họ làm giỏi nhất là kiên nhẫn cầm tay chỉ việc - ghi chép, phân tích, hội họp, hướng dẫn, kiểm tra, tái kiểm…, cho đến khi nào nhà cung cấp biết làm và làm thành thục thì thôi.Tuy nhiên, hiệu quả thực sự của những chuyển giao đấy về lâu dài không bao nhiêu, không đem lại cho doanh nghiệp Việt một nền tảng công nghệ cần thiết. Cơ quan chịu trách nhiệm cho chiến lược này, nếu như nhìn vào tên hiệu: Cục Công nghiệp, có vẻ không đủ cả thẩm quyền, năng lực lẫn tầm nhìn để dẫn dắt nền công nghiệp chế tạo đi đúng hướng: tăng dần độ chính xác và ổn định, thiết bị máy móc hiện đại, nhân công làm chủ được công nghệ sản xuất, kiểm định, cạnh tranh và tham gia được vào chuỗi cung ứng hướng xuất khẩu.Chính sách ưu đãi đầu tư quá rộng rãi với FDI, hiểu không hết về sách lược bảo hộ thời gian đầu, không cương quyết buộc nhà đầu tư phải tuân thủ yêu cầu nội địa hóa, và không có chính sách hỗ trợ đúng cho nhà sản xuất tư nhân nội địa, khiến doanh nghiệp tư nhân trong ngành chế tạo không lớn nổi, dù có ước mơ hay tham vọng. Những cam kết, hứa hẹn của các đại bàng FDI về nâng cao tỉ lệ nội địa hóa và chuyển giao công nghệ chưa bao giờ thành hiện thực, vì khi đó không phải là điều bắt buộc với họ. Vai trò của các viện nghiên cứu hay trường đại học quốc nội trong tạo ra tri thức công nghiệp lại càng mờ nhạt.Thực chất của chuyển giao công nghệMột nhầm lẫn suốt 40 năm qua ít ai đính chính, đấy là yêu cầu "chuyển giao công nghệ" với các tập đoàn đa quốc gia. Honda, Toyota, Samsung, họ có thể chuyển giao gì cho Việt Nam? Công nghệ lõi để sản xuất xe máy, ô tô, điện thoại di động? Tất nhiên là không có chuyện đấy, không ai lấy nồi cơm cả trăm năm của mình đi giao cho người khác.Họ chuyển giao công nghệ sản xuất linh kiện, cụm linh kiện sản phẩm đầu cuối? Cũng không luôn, vì họ có sản xuất ra những chi tiết, linh kiện, cụm linh kiện đấy đâu. Chúng là từ hệ thống nhà cung cấp mà họ xây dựng qua hàng trăm năm làm ăn kinh doanh. Làm gì có chuyện họ yêu cầu nhà cung cấp của mình chỉ cho doanh nghiệp Việt Nam bí quyết chế tạo linh kiện! Điều duy nhất một doanh nghiệp đa quốc gia có thể mang đến cho nhà sản xuất thuần Việt, là cơ hội được cung cấp linh kiện với mức giá, chất lượng, và tính ổn định tương đương, bằng cách kiên nhẫn kiểm soát, hướng dẫn và theo dõi cải tiến.Một số công ty Nhật đã làm điều đấy với nhà cung cấp Việt Nam trong ngành ép nhựa và gia công cơ khí, để cho đến bây giờ, doanh nghiệp tư nhân Việt Nam có thể cạnh tranh phần nào với nhà máy Trung Quốc, và có cả xuất khẩu linh kiện, chi tiết, cụm chi tiết thiết bị công nghiệp, thiết bị y tế, linh kiện xe hơi qua Hàn Quốc, Nhật Bản. Nhưng như thế là chưa đủ, nếu không nói là quá ít ỏi hay thất bại, cho quá trình học hỏi và xây dựng một nền công nghệ quốc gia, sau gần 40 năm làm gia công cho Nhật Bản, Hàn Quốc, rồi giờ là Trung Quốc, những quốc gia đã tuần tự vươn lên đứng đầu thế giới về năng lực và kỹ năng chế tạo, lắp ráp.Những thành tựu hiếm hoi về gia công linh kiện, chế tạo chi tiết và một số cấu kiện, là nỗ lực đơn lẻ, cao độ của các doanh nghiệp tư nhân. Những gì họ có được từ chính quyền, như hỗ trợ vay vốn lãi suất thấp, ưu tiên thuê đất trong khu công nghệ cao kế bên khách hàng FDI lớn, đều mang tính nhỏ lẻ. Nó không là một giải pháp tổng thể mang tính đặt hàng của chính phủ. Cũng không có một sức ép đủ mạnh để doanh nghiệp FDI cam kết thực hiện nhả ra một phần nhu cầu nguyên vật liệu, linh kiện đầu vào cho doanh nghiệp thuần nội gia công.Với công ty nội địa, đầu tư một phòng nghiên cứu phát triển thực sự là đòi hỏi quá lớn, khi mà một máy đo 3D, một thiết bị kiểm độ cứng hay độ ăn mòn thường vượt quá ngân sách hầu hết các doanh nghiệp. Xin một khoản vay ưu đãi cho khoản đầu tư này càng khó, vì ngân hàng khó thẩm định được giá và khả năng sinh lời của thiết bị. Không có môi trường cho thử sai, cho đầu tư thiết bị hiện đại, không cả sức ép từ phía khách hàng, doanh nghiệp nội không có cơ hội để hiểu về công nghệ, chứ đừng nói là nắm bắt, làm chủ.Bài học về tiến trình học hỏi công nghệ khi mở cửa cho FDI không cần phải tìm đâu xa: nước láng giềng Trung Quốc có lẽ là quốc gia thành công nhất lịch sử hiện đại trong chuyện này. Hãng xe Đức Volkswagen buộc phải xây dựng trung tâm R&D khi bước vào thị trường Trung Quốc từ năm 1984 và phải thực hiện cam kết về đào tạo kỹ sư, chia sẻ bản quyền. Nhân sự kỹ thuật Trung Quốc, với tâm thế dân tộc chủ nghĩa và cách làm không được minh bạch lắm, đã biến "copyright" (bản quyền) thành "right to copy" (quyền được bắt chước) để sao chép hầu hết công nghệ sản xuất, lắp ráp ở mức trung bình của Nhật Bản, rồi xây dựng nên công ty sản phẩm gia dụng lớn nhất thế giới Midea; công ty lắp ráp máy điều hòa nhiều nhất thế giới Gree. Gần đây nhất, chính phủ Trung Quốc vẫn sử dụng chính sách cấp vốn và ưu đãi tối đa kèm theo mệnh lệnh sắt để có được công ty sản xuất chip SMIC, hiện thống trị mảng chip hạng trung của thế giới; hay Huawei, công ty viễn thông di động cạnh tranh ngang ngửa với Samsung, Apple.Một chính sách như đơn đặt hàng của chính phủ đến doanh nghiệp tư nhân dẫn đầu trong một số lĩnh vực công nghiệp - với ưu đãi lẫn sức ép đều ở mức tối đa, trong đó chính phủ đóng vai trò người đồng kiến tạo và bảo trợ để đạt được mục đích tạo ra một công ty nếu chưa ở tầm toàn cầu thì phải tầm châu lục hay khu vực, là thành công nổi bật nhất của Trung Quốc trong quá trình công nghiệp hóa, sau Nhật Bản và Hàn Quốc. Đấy cũng là tóm tắt về thành bại trong giấc mơ hóa rồng, mà nhiều nước Đông Nam Á, bao gồm Việt Nam, đang có nguy cơ bỏ lỡ.Một nền sản xuất thực sự, sở hữu công nghệ dù ít dù nhiều, dù cao dù thấp, vẫn đang và sẽ là nền tảng để tạo ra nhiều nhất những công ăn việc làm ổn định, căn cơ, để tạo nên sức mạnh thực chất, bền vững và có chiều sâu cho quốc gia. Nền sản xuất đó sẽ tạo nên không phải vài thành phố sang trọng, lấp lánh và đắt đỏ, mà là hàng chục, hàng trăm đô thị công nghiệp, dịch vụ, tạo cơ sở cho một tầng lớp trung lưu có hợp đồng lao động dài hạn với nhà máy, có thể mua nhà và dám sinh con.Nó có thể là một quan điểm duy sản xuất có phần bảo thủ, nhưng cần phải được duy trì và tôn trọng đúng mức ở tầm nhìn vĩ mô và ở trình độ phát triển hiện tại của đất nước. Lịch sử kinh tế thế giới hiện đại cho thấy không một quốc gia nào thất bại ở sản xuất, mà lại có thể tiến lên nền kinh tế dịch vụ, tài chính thành công cả. Ngay cả những đô thị tài chính, thương mại phát đạt nhất châu Á như Singapore hay Hong Kong thực ra cũng đã phải bắt đầu bằng sản xuất. Kết cục với một nền kinh tế đi lạc vào con đường mà dòng tiền chỉ chảy tới những thứ dễ bán dễ mua, dễ đầu cơ tăng giá, như nhiều nước Đông Nam Á đã trải qua, sẽ là dễ đi đến kết cục số ít người rất giàu, tầng lớp trung lưu bấp bênh, nhỏ bé, và người nghèo càng ít cơ hội.■ Trong bối cảnh nền kinh tế hiện tại, một đại công trường trên cả nước đang được khởi động và tăng tốc. Các dự án sân bay, đường sắt hiện đại, đường cao tốc, khu phức hợp, cảng biển… đang được thúc tiến độ từ Bắc chí Nam. Chỉ có điều, bao nhiêu phần trăm máy móc, thiết bị, vật tư trong đó, chúng ta có thể tự sản xuất và làm chủ? Bao nhiêu trong đó là thành quả của 40 năm FDI? Bao nhiêu là từ các doanh nghiệp nhà nước? Bao nhiêu từ những nỗ lực tự thân của các doanh nghiệp tư nhân, như Hòa Phát, Thaco? Chưa dám nói đến phần mềm của các công trình như hệ thống quản lý tự động hóa, chương trình vận hành hoạt động, thứ mà những công ty nội địa chưa bao giờ có thế mạnh, danh mục vật tư thiết bị nhập khẩu và chế tạo trong nước cho đại công trường thập kỷ là bao nhiêu?Để trả lời, thử nhìn vào một ví dụ cụ thể. Sau một thời gian tìm kiếm nhà thầu cung cấp phần vỏ cho trạm sạc xe điện với số lượng lên hàng chục ngàn đơn vị, mà nguyên vật liệu thép Việt Nam có thể sản xuất được, gia công, sơn mạ, công nghệ không có gì phức tạp, cuối cùng công ty đầu ngành ở Việt Nam về xe điện cũng phải tìm đến một nhà sản xuất Trung Quốc! Hay một chuyện khác lớn hơn: con số giá trị xuất khẩu hơn 450 tỉ USD năm 2025 có bao nhiêu là hàng trung chuyển, bao nhiêu là thuần túy của FDI, và doanh nghiệp Việt đóng góp bao nhiêu? Tags: Công nghiệp hóaCông nghệNền kinh tếViệt NamSản xuất
EBAI: Vai trò người sáng lập duy nhất của Victor Tardieu là không thể tranh cãi CODET HANOI 07/02/2026 2642 từ
Trung Quốc đã làm gì để tránh 'dư thừa bằng cấp, thiếu hụt kỹ năng' NGUYỄN THÀNH TRUNG(Chuyên gia) 06/02/2026 1969 từ
Báo Israel: Mỹ mất tiêm kích F-15 đầu tiên trong 50 năm; Đại sứ quán Mỹ tại Kuwait bốc cháy NGỌC ĐỨC 02/03/2026 Báo Israel cho biết một tiêm kích F-15 của Mỹ vừa rơi tại Kuwait. Đây là dòng tiêm kích huyền thoại, chưa bao giờ thua. Tại Lebanon, 31 người chết, 149 người bị thương do Israel không kích.
Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Văn Được: Nhiệm vụ quốc phòng ngày càng cao, cần sẵn sàng tránh bất ngờ TRÍ ĐỨC 02/03/2026 Sáng 2-3, Bộ Tư lệnh TP.HCM tổ chức lễ ra quân huấn luyện năm 2026 và phát động đợt thi đua cao điểm, hưởng ứng đợt bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
'Được' và 'mất' của ông Trump khi lãnh tụ tối cao Iran thiệt mạng DUY LINH 02/03/2026 Hành động quân sự của Mỹ và Israel có thể tạo ra sự gián đoạn chiến thuật trong quá trình ra quyết định tại Iran, song cũng để lại hệ lụy khó lường.
Báo Tuổi Trẻ tổ chức tọa đàm 'Triển vọng các kênh đầu tư 2026' Nhật Quang 02/03/2026 Tọa đàm “Triển vọng các kênh đầu tư 2026” quy tụ các chuyên gia phân tích xu hướng dòng tiền và chiến lược phân bổ tài sản trong bối cảnh kinh tế bước vào giai đoạn tăng tốc mới.