Bản đồ du học toàn cầu đang được vẽ lại

TRỌNG NHÂN 04/04/2026 06:20 GMT+7

TTCT - Những biến động xã hội và chính trị tại một số quốc gia phương Tây khiến nhiều sinh viên quốc tế phải cân nhắc lại nơi mình sẽ sống và học trong nhiều năm tới.

a - Ảnh 1.

Du học sinh Trung Quốc chụp ảnh trước Đại học Sydney (Úc), tháng 8-2020. Ảnh: Loren Elliott/Reuters

Trong khi các điểm đến truyền thống như Mỹ, Anh, Úc và Canada siết chặt chính sách visa và chi phí học tập ngày càng tăng, nhiều quốc gia khác, nhất là ở châu Á, đang nhanh chóng tận dụng cơ hội để giành giật thị phần từ "bộ tứ" (big four) thị trường du học quốc tế.

Sau khi hoàn thành chương trình thạc sĩ toán tài chính tại Trường Kinh tế và khoa học chính trị London (LSE) ở tuổi 30, Qian Yaru (Vũ Hán, Trung Quốc) đứng trước lựa chọn quen thuộc của nhiều du học sinh quốc tế: tiếp tục học tiến sĩ tại Anh hay sang Mỹ. 

Sau nhiều tháng suy nghĩ, cô đưa ra một quyết định ít ai ngờ tới: tiếp tục con đường nghiên cứu tại Đại học Quản lý Singapore (SMU) thay vì những trung tâm lâu đời của giáo dục bậc cao toàn cầu.

Trên CNA (Singapore), Qian cho biết quyết định đó không thuần liên quan đến học thuật. Sau vài năm học tập tại châu Âu, cô nhận ra rằng những yếu tố như môi trường sống hay cảm giác an toàn ngày càng trở nên quan trọng. Singapore mang lại cho cô cảm giác ổn định và quen thuộc hơn, đặc biệt đối với phụ nữ.

Những biến động xã hội và chính trị tại một số quốc gia phương Tây khiến nhiều sinh viên quốc tế phải cân nhắc lại nơi mình sẽ sống và học trong nhiều năm tới, như một dòng tít trên The Economist tháng 9-2025: "Châu Á đang giành được nhiều sinh viên quốc tế hơn trước đây rất nhiều".

Về tắm ao châu Á

Đang điều hành công việc kinh doanh riêng, doanh nhân trẻ Kent Cai (Chiết Giang, Trung Quốc) lên kế hoạch học tiến sĩ. Thoạt đầu Cai cũng cân nhắc những điểm đến quen thuộc như Mỹ hay châu Âu, nhưng cuối cùng lại chuyển tới Kuala Lumpur (Malaysia) để nghiên cứu về việc ứng dụng AI trong sản xuất nội dung truyền thông.

Cai nói Kuala Lumpur mang lại một lợi thế rõ ràng, đó là chi phí học tập và sinh hoạt thấp hơn nhiều so với các thành phố lớn ở phương Tây, trong khi môi trường học tập vẫn mang tính quốc tế và giảng dạy bằng tiếng Anh. 

"Tôi không chỉ muốn học thêm một tấm bằng. Tôi muốn ở gần một hệ sinh thái đang phát triển nhanh, nơi tôi có thể gặp gỡ các doanh nghiệp và thử nghiệm những ý tưởng mới"- Cai nói với South China Morning Post (Hong Kong).

Sự dịch chuyển trong cách lựa chọn điểm đến học tập cũng xuất hiện ngay từ bậc đại học. Báo The Star (Malaysia) dẫn lại câu chuyện của Chai Xin Yi, một học sinh từng có kế hoạch sang Mỹ học đại học sau khi tốt nghiệp phổ thông, giống như nhiều bạn bè của mình. Tuy nhiên, khi bắt đầu tìm hiểu kỹ hơn về học phí, chi phí sinh hoạt và các chương trình đào tạo trong nước, cô dần thay đổi suy nghĩ.

Xin Yi nhận ra rằng các trường đại học tại Malaysia hiện đã cung cấp nhiều chương trình đào tạo bằng tiếng Anh, ngành học đa dạng và đặc biệt là các chương trình liên kết với các trường quốc tế. Ngoài ra, học tập tại Malaysia vẫn có thể mang lại trải nghiệm giáo dục quốc tế mà không cần phải gánh mức học phí quá cao.

"Bộ tứ" đang mất ngôi?

Tại Tuần lễ giáo dục Đông Á diễn ra vào tháng 2-2026 tại Jakarta (Indonesia), Harry Anderson, phó giám đốc tổ chức Universities UK International (UUKi), thừa nhận hệ thống giáo dục quốc tế đang bước vào giai đoạn tái cân bằng, khi quyền lực thu hút sinh viên không còn tập trung vào một vài quốc gia như trước.

Theo phân tích của Anderson, năm 2013, bốn quốc gia này thu hút khoảng 39-40% sinh viên quốc tế toàn cầu, nhưng đến năm 2022 tỉ lệ này đã giảm xuống khoảng 33%. Ngược lại, phần còn lại của thế giới đã tăng thị phần lên tới 67%. Trong đó, một động lực lớn đến từ sự trỗi dậy của các trường đại học tại châu Á.

Theo dữ liệu bảng xếp hạng QS, châu Á hiện có khoảng 565 trường đại học được xếp hạng, cao hơn châu Âu với 487 trường và châu Mỹ với 358 trường. Trong vòng một thập niên, Malaysia đã tăng từ 1 lên 5 trường trong top 250, Ấn Độ từ 3 lên 6 trường, còn Trung Quốc từ 8 lên 10 trường. Indonesia lần đầu tiên có 2 trường lọt vào nhóm này.

Ngoài chất lượng học thuật được cải thiện, chi phí cũng là thế mạnh của các thị trường du học châu Á. Theo các khảo sát của IDP Emerging Futures được Anderson trích dẫn, sinh viên quốc tế hiện nay ngày càng quan tâm đến giá trị đầu tư của việc du học, bao gồm học phí, chi phí sinh hoạt và khả năng tìm việc sau khi tốt nghiệp. Trong bối cảnh đó, nhiều điểm đến tại châu Á trở nên hấp dẫn hơn vì chi phí thấp hơn so với các trung tâm giáo dục truyền thống.

Một yếu tố quan trọng khác là chính sách của các quốc gia. Anderson cho rằng thị trường giáo dục quốc tế ngày càng "nhạy cảm với chính sách", nghĩa là chỉ cần thay đổi về visa, quyền làm việc sau tốt nghiệp hay quy định nhập cư, dòng sinh viên có thể dịch chuyển nhanh chóng. 

Điển hình, Canada áp dụng các biện pháp hạn chế quy mô sinh viên quốc tế, trong khi Úc cũng đưa ra những thay đổi nhằm kiểm soát số lượng du học sinh khiến nhiều bạn trẻ tìm kiếm các lựa chọn thay thế.

a - Ảnh 2.

Sinh viên tham gia sự kiện mừng tết âm lịch tại Đại học Malaya ở Kuala Lumpur (Malaysia). Ảnh: AFP

Ngược lại, nhiều quốc gia châu Á đang chủ động mở rộng chiến lược thu hút sinh viên quốc tế. Theo ICEF Monitor, Hàn Quốc đã vượt mốc 300.000 sinh viên quốc tế vào năm 2025, đạt mục tiêu đề ra cho năm 2027 sớm hơn hai năm, trong đó Việt Nam là nguồn sinh viên lớn nhất với hơn 107.000 người. 

Nhật cũng đón hơn 336.000 sinh viên quốc tế trong năm 2024, tăng 21% so với năm trước và đang hướng tới mục tiêu 400.000 vào năm 2033. Vùng lãnh thổ Đài Loan hiện có khoảng 125.000 sinh viên quốc tế và đặt mục tiêu nâng con số này lên 320.000 vào năm 2030.

Ấn Độ đang thúc đẩy chiến lược quốc tế hóa giáo dục với các loại visa mới như e-student visa và G20 Talent Visa, đồng thời đặt mục tiêu thu hút 500.000 sinh viên quốc tế vào năm 2047. 

Thổ Nhĩ Kỳ hiện có khoảng 340.000 sinh viên quốc tế, tăng gấp sáu lần trong một thập niên và đặt mục tiêu đạt 500.000 vào năm 2028, mang lại khoảng 3 tỉ USD mỗi năm từ chi tiêu của du học sinh. 

Kazakhstan đang thu hút hơn 31.000 sinh viên quốc tế và hướng tới mục tiêu 150.000 vào năm 2029, với chiến lược đẩy mạnh hợp tác quốc tế và mở các phân hiệu đại học nước ngoài.

Du học "phi truyền thống"

Góp phần vào tái định hình các điểm đến du học còn có một tác nhân là làn sóng giáo dục Transnational Education (TNE) hay giáo dục xuyên biên giới. 

TNE được định nghĩa là các hình thức du học khác hình thức du học "cổ điển" (đến một quốc gia học trực tiếp toàn thời gian trong suốt chương trình), bao gồm liên kết đào tạo, chương trình song bằng, nhượng quyền chương trình, các lộ trình học chuyển tiếp và cả học tại phân hiệu ở một nước thứ ba. 

Sinh viên vẫn nhận được bằng cấp quốc tế nhưng không cần phải rời khỏi khu vực hoặc phải chi trả chi phí sinh hoạt cao tại các trung tâm giáo dục phương Tây.

Theo báo cáo của UUKi, các chương trình TNE của các trường đại học Anh đã đạt 653.570 sinh viên trên toàn thế giới trong năm học 2023-2024. Con số này tăng khoảng 70% so với năm học 2014-2015, cho thấy tốc độ mở rộng rất mạnh của hình thức đào tạo này trong vòng một thập niên.

Quy mô này hiện đã gần tương đương với số sinh viên quốc tế học trực tiếp tại Anh, vốn đạt khoảng 704.405 người trong cùng giai đoạn. Trong khi số sinh viên quốc tế đến Anh có dấu hiệu chững lại do các thay đổi về chính sách visa và chi phí sinh hoạt tăng cao, số sinh viên theo học các chương trình TNE của Anh lại tăng khoảng 7,8% chỉ trong một năm. 

Trong tổng số sinh viên TNE của Anh năm học 2023-2024, có gần 492.000 sinh viên học theo các mô hình hợp tác đào tạo trực tiếp thông qua các đối tác, trong khi khoảng 162.000 sinh viên học theo hình thức linh hoạt hoặc từ xa.

Bản đồ du học toàn cầu đang được vẽ lại - Ảnh 3.

Phân hiệu Malaysia của Đại học Curtin. Ảnh: Curtin University Malaysia

Về địa lý, châu Á hiện là trung tâm lớn nhất của giáo dục xuyên biên giới. Theo thống kê của UUKi, khoảng 51% tổng số sinh viên TNE của các trường đại học Anh đang theo học tại các quốc gia châu Á. Trong vòng 5 năm gần đây, khu vực này cũng ghi nhận mức tăng trưởng nhanh nhất với hơn 106.000 sinh viên mới theo học các chương trình TNE của Anh.

Trong đó, Đông Á (bao gồm Đông Nam Á) đang trở thành hai khu vực năng động nhất của TNE nhờ sự gia tăng nhanh của tầng lớp trung lưu, nhu cầu lớn đối với bằng cấp quốc tế và sự phát triển của các chương trình đào tạo bằng tiếng Anh. 

Theo Hội đồng Anh, năm học 2023-2024, có khoảng 12.500 sinh viên Việt Nam theo học các chương trình giáo dục TNE của Anh, tăng 25% so với năm trước - mức tăng nhanh nhất châu Á. Trong khi đó, Malaysia hiện có hơn 43.000 sinh viên theo học các chương trình TNE của các đại học Anh.

Hiện tượng Malaysia

Một trong những hướng phát triển giáo dục TNE được nhiều nước Đông Nam Á chọn và cạnh tranh nhau là bắt tay với các đại học từ nhóm big four để lập phân hiệu (campus) tại nước mình. 

Tại Malaysia, quyết định của Đại học Monash (Úc) đầu tư khoảng 660 triệu USD để xây dựng một "siêu phân hiệu" mới tại Kuala Lumpur, theo thông tin công bố tháng 10-2025, được Nikkei đánh giá là "tín hiệu rõ ràng cho thấy quốc gia này đang nổi lên như một trung tâm giáo dục đại học của khu vực".

Cơ sở mới dự kiến đặt tại khu tài chính Tun Razak Exchange và hoàn thành vào năm 2032, tập trung vào các lĩnh vực nghiên cứu như y tế, trí tuệ nhân tạo, chuyển dịch năng lượng và khoa học dữ liệu. Hiện nay, phân hiệu Monash tại Malaysia đã có hơn 11.000 sinh viên đến từ 85 quốc gia và dự kiến quy mô tuyển sinh có thể vượt 22.000 sinh viên vào năm 2040.

Khoản đầu tư này chỉ là một phần của làn sóng mở rộng các campus quốc tế tại Malaysia. Theo dữ liệu của Tổ chức Dịch vụ Giáo dục Malaysia Toàn cầu (EMGS), quốc gia này hiện có 11 phân hiệu đại học quốc tế, đến từ Anh, Úc, Trung Quốc, Ireland và Nhật Bản. 

Có thể kể đến như Đại học Nottingham, Đại học Southampton (Anh), Đại học Curtin, Đại học Kỹ thuật Swinburne (Úc) hay Đại học Hạ Môn (Trung Quốc)… Con số này chỉ ít hơn Singapore khoảng 5 phân hiệu.

Theo Novie Tajuddin, giám đốc điều hành EMGS, trong ba năm gần đây, số đơn đăng ký học tập tại Malaysia tăng nhanh, từ 51.677 hồ sơ năm 2022 lên 81.992 hồ sơ năm 2024 và đạt 87.206 hồ sơ tính đến tháng 11-2025. Hiện nay, Malaysia đang có khoảng 155.000 sinh viên quốc tế, tăng đáng kể so với khoảng 130.000 sinh viên cách đây hai năm.

Chính phủ Malaysia nhanh chóng đưa ra các chính sách hỗ trợ nhằm thúc đẩy chiến lược quốc tế hóa giáo dục, bao gồm việc cho phép sinh viên từ 32 quốc gia ở lại tối đa một năm sau khi tốt nghiệp để tìm việc. 

Ngoài ra, sự phát triển của các campus quốc tế tại Malaysia cũng gắn chặt với chiến lược phát triển kinh tế của các địa phương. Như tại bang Sarawak, các cơ sở của Đại học Curtin và Đại học Swinburne được xây dựng với sự hỗ trợ trực tiếp của chính quyền bang, nhằm tạo ra các trung tâm đào tạo nhân lực cho các ngành chiến lược như dầu khí, kỹ thuật và kinh tế số.

Theo một chuyên gia kỳ cựu trong lĩnh vực tuyển sinh du học Anh, việc chiêu mộ học sinh Việt Nam đi học nước ngoài hiện nay đã trở nên vô cùng khó khăn, khi tỷ lệ từ chối visa của Anh cao hơn nhiều so với trước đây.

"Dựa trên dữ liệu từ Cục Quản lý thị thực và xuất nhập cảnh Vương quốc Anh, tỉ lệ chấp thuận visa du học Tier 4 [dành cho người từ 16 tuổi trở lên] thường ở mức trên 90%, nhưng đã giảm xuống chỉ còn hơn 80% trong giai đoạn 2024-2025. Đây là một dấu hiệu đáng báo động" - Nikkei dẫn lời chuyên gia.

Việc siết chặt kiểm tra hồ sơ tài chính cũng khiến quá trình xét duyệt visa Anh có thể bị trì hoãn tới ba tháng. Điều này khiến một số học sinh lỡ mất hạn chót nhập học và buộc phải chọn học tại Việt Nam hoặc một quốc gia khác. Tuy nhiên, chuyên gia này cũng lưu ý rằng tình hình visa đã có những cải thiện trong năm 2026 này.

Bình luận Xem thêm
Bình luận (0)
Xem thêm bình luận