Những nghịch lý giá dầu

TƯỜNG ANH 01/04/2026 14:07 GMT+7

TTCT - Xung đột leo thang ở Trung Đông và việc gần như hoàn toàn không có nguồn cung qua eo biển Hormuz đã dẫn đến giá dầu ổn định ở mức trên 100 đô la/thùng.

c - Ảnh 1.

Ảnh: Morningstar

Vào ngày 21-3, dầu Brent được giao dịch ở mức khoảng 110 đô la, trong khi dầu Ural của Nga được giao dịch ở mức 106 đô la. Trong khi đó, ngân sách Nga năm nay được dự toán dựa trên giá dầu thô là 59 đô la.

Thống đốc Ngân hàng Trung ương Elvira Nabiullina tại một cuộc họp báo ở Matxcơva ngày 20-3 thừa nhận: Tình hình ở Trung Đông đã tác động đến nền kinh tế Nga, chủ yếu do giá dầu tăng cao.

Lợi thế cho Nga?

Ngân sách liên bang năm 2026 của Nga giả định giá dầu ở mức 59 đô la với tỉ giá hối đoái 92,2 rúp/đô la. Các tính toán của viện nghiên cứu KSE (Ukraine) đăng trên báo Đức Der Spiegel chỉ ra 3 kịch bản giá dầu giả định:

(1) Nếu chiến tranh Iran kết thúc vào giữa tháng 4, giá dầu trên thị trường toàn cầu tăng lên khoảng 100 đô la, và giá khí đốt cũng tăng, thì thay vì khoảng 99 tỉ đô la dự kiến vào năm 2026, Nga sẽ thu được 169 tỉ đô la chỉ từ xuất khẩu dầu mỏ; doanh thu bán khí đốt mang về thêm 50 tỉ đô la nữa. Như vậy, doanh thu khả dụng của Điện Kremlin từ nguyên liệu thô tăng tổng cộng 84 tỉ đô la.

(2) Nếu chiến tranh kéo dài đến cuối tháng 5, giá dầu tăng lên 140 đô la, nhưng sau đó nhanh chóng giảm. Đến cuối năm, Điện Kremlin sẽ thu được nhiều hơn khoảng 161,3 tỉ đô la so với dự toán. Doanh thu nhà nước sẽ tăng thêm 97 tỉ đô la.

(3) Kịch bản nghiêm trọng nhất giả định rằng các cuộc xung đột tiếp diễn đến cuối tháng 9, với giá dầu duy trì ở mức 150-200 đô la. Theo KSE, tổng doanh thu của Nga từ việc bán dầu khí có thể đạt 386,6 tỉ đô la, trong khi doanh thu thuế và các khoản thu tương tự thuế từ lĩnh vực hàng hóa có thể đạt 212,5 tỉ đô la. 

Tạp chí Der Spiegel so sánh những ước tính này với khối lượng hỗ trợ quốc tế dành cho Ukraine, lưu ý rằng trong suốt cuộc chiến, Kiev đã nhận được trung bình khoảng 100 tỉ đô la viện trợ tài chính và quân sự mỗi năm.

Tờ Financial Times trước đó đưa tin, sau khi eo biển Hormuz đóng cửa và căng thẳng leo thang ở Trung Đông, Nga đã thu về thêm khoảng 150 triệu đô la mỗi ngày từ doanh thu dầu mỏ. 

Nhu cầu dầu của Nga từ Ấn Độ và Trung Quốc đã tăng 22%, tương phản rõ rệt so với tháng 2, khi áp lực trừng phạt khiến xuất khẩu của Nga giảm xuống mức thấp nhất kể từ năm 2022. FT do đó gọi Nga là "một trong những bên hưởng lợi chính" từ cuộc xung đột quân sự ở Trung Đông.

"Thuốc chữa bệnh" hay "thuốc độc"?

Rõ ràng Nga có cơ hội cải thiện các chỉ số ngân sách nhờ giá dầu và khí đốt tăng cao trong cuộc chiến Iran. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng điều này có thể là con dao hai lưỡi.

Igor Yushkov, chuyên gia tại Quỹ An ninh Năng lượng Quốc gia và Đại học Tài chính (Nga), nói với tờ Zvezda rằng giá dầu siêu cao có thể có tác động ngược với Nga: Ít người có đủ khả năng mua dầu ở mức 150 đô la/thùng. 

Giá dầu quá cao gây hại cho cả người mua và người bán, kết quả là sụt giảm doanh thu trong trung hạn. Giá dầu cao đồng nghĩa với chi phí năng lượng và hậu cần cao hơn cho cuộc chiến Ukraine, cùng với đó là chi phí hàng hóa.

"Điều này sẽ dẫn đến lạm phát tăng vọt và buộc Ngân hàng Trung ương phải tăng lãi suất... Kết quả là các doanh nghiệp sẽ mất quyền tiếp cận các khoản vay giá rẻ, và một cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu sẽ bắt đầu", Yushkov phân tích.

Nói cách khác, Nga có thể kiếm được lợi nhuận lớn trong một thời gian, nhưng sau đó doanh thu sẽ giảm mạnh do khủng hoảng toàn cầu. "Mức giá 200 đô la một thùng là mức giá mà cả Nga, Mỹ hay châu Âu đều không cần", chuyên gia này nhận định. 

Theo Yushkov, điều quan trọng với Matxcơva là giữ giá dưới 100 đô la. Kịch bản lý tưởng nhất là một mức giá không quá đắt, nhưng cũng không quá rẻ, để với Nga, "thuốc chữa bệnh sẽ không biến thành thuốc độc".

Ở Nga, một số phương tiện truyền thông còn lo ngại xung đột Iran có thể là sự cứu vãn kinh tế cho Nga, nhưng cũng có thể khiến Nga mất uy tín và vị thế trong khu vực. Báo Thụy Sĩ Neue Zürcher Zeitung cũng đưa ra những bất lợi có tính địa chính trị với Nga nếu cuộc chiến Iran kéo dài và / hoặc Iran rơi vào tầm ảnh hưởng của Mỹ. 

Iran là thành viên của BRICS và SCO, những hiệp hội mà Nga và Trung Quốc tích cực thúc đẩy như các trụ cột của một hệ thống toàn cầu mới không hướng về phương Tây. Sự hợp tác này thời gian qua đã giúp Matxcơva không bị cô lập và sụp đổ dưới các lệnh trừng phạt.

Nghịch lý ở Hormuz

Iran không chỉ phong tỏa eo biển Hormuz với hầu hết tàu thuyền, mà còn hoàn toàn không bị cản trở khi xuất khẩu dầu mỏ, và Mỹ không thể làm gì để ngăn chặn điều đó.

Không chỉ thế, ngày 19-3, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent tuyên bố Mỹ có thể dỡ bỏ lệnh trừng phạt với dầu mỏ của Iran để ngăn chặn việc tăng giá mạnh. Nói cách khác, một quốc gia đang có chiến tranh với Iran lại đang tạo cơ hội cho nước này tối đa hóa lợi nhuận từ xuất khẩu, kiếm tiền để tiếp tục cuộc kháng chiến của họ.

Ngày 20-3, Lloyd's List đưa tin Iran đã nới lỏng một phần việc phong tỏa giao eo biển Hormuz, thiết lập một "hành lang an toàn" cho các hãng vận tải được phê duyệt và bắt đầu thu phí với tàu đi qua. Theo ấn phẩm này, một nhà khai thác đã trả khoảng 2 triệu đô la để tàu chở dầu của họ đi qua. 

Theo bài báo, ít nhất 9 tàu đã đi qua eo biển theo cách này, dù không rõ bao nhiêu tàu đã trả phí, vì trong một số trường hợp, các bên chỉ giới hạn ở can thiệp ngoại giao. Hơn nữa, cơ chế thanh toán vẫn chưa rõ ràng do các lệnh trừng phạt hiện hành với Iran.

"Giá dầu trong vài tuần tới tiếp tục lệ thuộc vào tình hình xung quanh Iran. Căng thẳng leo thang, đặc biệt là dưới hình thức tấn công vào các cơ sở dầu khí hoặc tàu chở dầu, chắc chắn sẽ dẫn đến việc giá tăng nữa, đẩy giá lên gần 150 đô la một thùng". 

"Đồng thời, các dấu hiệu về khả năng chấm dứt xung đột, hoặc ít nhất là giảm tấn công lẫn nhau vào các cơ sở nhiên liệu và năng lượng, sẽ góp phần ổn định giá cả. Việc Iran gần đây tuyên bố ý định thu phí đi lại qua eo biển Hormuz chính là một dấu hiệu như vậy", ông Valery Andrianov, phó giáo sư tại Đại học Tài chính thuộc Chính phủ Nga, cho biết.

Theo ông, có thể giả định rằng Tehran đang chịu áp lực từ các nước mua dầu ở Trung Đông, chủ yếu là Trung Quốc, và mục tiêu của họ là khôi phục một phần việc vận chuyển dầu qua eo biển mà không làm mất thể diện hoặc tạo ra ấn tượng rằng nước Cộng hòa Hồi giáo đang nhượng bộ. 

Giải pháp lý tưởng là cho phép tàu chở dầu "đủ điều kiện" đi qua, có thể bằng cách cấp giấy phép, và trả phí. Vì các nước mua dầu chính từ vùng vịnh Ba Tư là các nước thuộc khu vực châu Á - Thái Bình Dương, quy mô của việc vận chuyển "được cho phép" như vậy có thể rất lớn, điều sẽ dẫn đến giá dầu thấp hơn, theo Andrianov.

Tuy nhiên, nguy cơ leo thang vẫn còn. Ví dụ, nếu Mỹ đổ quân lên đảo Kharg, trung tâm xuất khẩu dầu mỏ quan trọng của Iran. Đáp lại, Tehran có thể sẽ buộc phải hành động, và sau đó eo biển Hormuz có thể bị phong tỏa trở lại. Trong trường hợp đó, giá dầu có thể tăng lên 150-200 đô la.

Nghịch lý ở Kharg

Tổng thống Mỹ Donald Trump ngày 19-3 một lần nữa tuyên bố Mỹ có thể chiếm đảo Kharg, nơi luân chuyển 90% lượng xuất khẩu năng lượng của Iran. Thảo luận ở Washington cho thấy người Mỹ thực sự có kế hoạch cho chiến dịch này. 

Sau khi chiếm được Kharg, Mỹ có thể ra tối hậu thư cho Tehran: chấp nhận các điều khoản của Mỹ hoặc tiếp tục sống mà không có 90% lượng xuất khẩu.

Tuy nhiên, như Strananews phân tích, một chiến dịch như thế có thể gặp phải một số khó khăn rất nghiêm trọng:

Thứ nhất, về mặt kỹ thuật, Mỹ sẽ tiến hành tấn công và chiếm giữ Kharg như thế nào? Để làm được điều này, ít nhất phải vô hiệu hóa tất cả các hệ thống tấn công của Iran trong khu vực trong một khoảng thời gian đáng kể, điều mà cho đến nay Mỹ và Israel vẫn chưa đạt được.

Thứ hai, ngay cả khi người Mỹ chiếm được Kharg, thì tiếp theo sẽ là gì? Liệu Tehran có thực sự đầu hàng và chấp nhận các điều khoản của Mỹ? Khi đó, Tehran sẽ mất gần như toàn bộ lượng dầu xuất khẩu, nhưng với giới lãnh đạo hiện tại của Iran, đây có thể là cái giá chấp nhận được so với việc đầu hàng, đặc biệt nếu Nga và Trung Quốc hỗ trợ tài chính.

Thứ ba, Iran sẽ không trả đũa Mỹ ở đảo Kharg để tránh phá hủy năng lực xuất khẩu ở nơi đó. Thay vào đó, họ sẽ phát động một cuộc tấn công quy mô lớn vào hạ tầng dầu mỏ khắp vùng Vịnh Ba Tư. 

Kết quả sẽ như nhau: giá cả sẽ tăng vọt, điều mà Washington vẫn muốn tránh. Hơn nữa, Iran có thể liên tục phát động các cuộc tấn công có mục tiêu vào lính Mỹ trên đảo Kharg mà không phá hủy hạ tầng của họ.

Cuối cùng, việc chiếm được Kharg sẽ không giúp ích gì cho việc giải tỏa eo biển Hormuz, vì Iran sẽ có thể tiếp tục bắn phá từ đất liền.

Để hoàn toàn giải tỏa eo biển Hormuz, Mỹ cần phải chiếm toàn bộ bờ biển Iran liền kề, điều đòi hỏi lực lượng lớn hơn nhiều lần so với 5.000 lính thủy đánh bộ đang được điều đến khu vực vịnh Ba Tư, một canh bạc với những hậu quả khó lường hơn nhiều so với chỉ không kích. Có thể thấy, khi cuộc chiến bước sang tuần thứ tư, Mỹ đang ngày càng có nguy cơ mắc kẹt ở Iran.■

Hiện ông Trump phải đối mặt với hai lựa chọn:

(1) Kết thúc chiến tranh bằng cách tuyên bố "chiến thắng". Nhưng Iran sẽ vẫn kiểm soát eo biển Hormuz, tất cả các nước sẽ đàm phán với Tehran, và ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực sẽ bị vô hiệu hóa.

(2) Tiếp tục ném bom, kích động đảo chính nội bộ và cố gắng chiếm Kharg. Nhưng điều này tiềm ẩn rủi ro tổn thất, lạm phát gia tăng, khủng hoảng ngân sách và khả năng Trung Quốc và Nga ủng hộ Iran.

Cả hai lựa chọn đều không mấy lạc quan với ông Trump.

Bình luận Xem thêm
Bình luận (0)
Xem thêm bình luận