Venezuela: Thành tại dầu mỏ, bại tại dầu mỏ

TƯỜNG ANH 02/02/2026 13:13 GMT+7

TTCT - Dầu mỏ đã biến Venezuela thành một trong 20 quốc gia giàu nhất thế giới vào năm 1970. Nhưng cũng chính dầu mỏ đã khiến Venezuela lâm vào tình cảnh mà ông Trump gọi là "quốc gia đã chết" sau khi Mỹ tập kích bắt tổng thống Nicolas Maduro.

a - Ảnh 1.

Ảnh: Fox TV

Trong thế kỷ 20, Venezuela đã chuyển mình từ một trong những nền kinh tế nghèo nhất trở thành giàu nhất Mỹ Latin, nhờ dầu mỏ. 

Trong cuốn sách Venezuela trước thời Chávez: Giải phẫu sự sụp đổ kinh tế của Ricardo Hausmann (Bộ trưởng Kế hoạch Venezuela 1992-1993) và Francisco Rodríguez (Trưởng Văn phòng Tư vấn kinh tế và tài chính Quốc hội Venezuela 2000-2004), trích dẫn những số liệu: Trong khi GDP bình quân đầu người của Venezuela chỉ tăng 1,8% giai đoạn 1900-1920, tốc độ tăng trưởng giai đoạn 1920-1948 là 6,8% mỗi năm.

Lý do cho sự thăng hoa kinh tế này là dầu mỏ, thứ mà nền kinh tế toàn cầu đang phục hồi sau Thế chiến I rất cần. Đến năm 1970, Venezuela đã trở thành quốc gia giàu nhất Mỹ Latin và là một trong 20 nước giàu nhất thế giới. 

Theo Penn World Table, GDP bình quân đầu người của Venezuela năm 1970 cao hơn Tây Ban Nha, Hy Lạp và Israel, chỉ thấp hơn 13% so với Anh. 

Thế nhưng Juan Pablo Pérez Alfonso, người sáng lập OPEC và ủng hộ việc giảm sự phụ thuộc của Venezuela vào dầu mỏ, đã cảnh báo vào năm 1976: "10-20 năm nữa sẽ trôi qua, và các bạn sẽ thấy - dầu mỏ sẽ hủy diệt chúng ta". Cảnh báo của ông đã không được lắng nghe.

Lý do địa chất và công nghệ

Các mỏ dầu lớn nhất thế giới nằm ở lưu vực phía bắc sông Orinoco. Gần như toàn bộ diện tích nằm trong lãnh thổ và thềm lục địa Venezuela, phía nam đảo Trinidad và một phần nhỏ Guyana. 

Trữ lượng ở đây rất lớn, ước tính khoảng 1,3 nghìn tỉ thùng, trong đó trữ lượng khai thác được ít nhất 270 tỉ thùng, tương đương Saudi Arabia. Tiến bộ trong công nghệ khai thác còn có thể tăng con số này lên nữa.

Ngày 31- 7-1914, giếng Zumake-1 đạt độ sâu 135 mét và cho ra dòng dầu phun trào đầu tiên của Venezuela ở mỏ đầu tiên, Mene Grande. Nhưng hầu hết lượng dầu được sản xuất đều rất nặng, nhớt, hàm lượng lưu huỳnh và kim loại cao, tức sản lượng của phần có giá trị nhất để chế tạo xăng tương đối thấp, và việc tinh chế tốn kém. 

Như Sergei Pikin, Giám đốc Quỹ Phát triển Năng lượng (Nga) nhận xét: "Việc sở hữu trữ lượng lớn là vấn đề địa chất, nhưng việc biến chúng thành trữ lượng thương mại đòi hỏi hàng chục tỉ đô la và nhiều năm làm việc. Dầu mỏ của Venezuela nặng, gần như giống như nhựa đường, đòi hỏi công nghệ phức tạp và pha loãng liên tục để vận chuyển".

Do đó, trữ lượng tưởng chừng khổng lồ của Venezuela hóa ra lại khó khai thác, kém hơn mọi mặt so với dầu mỏ truyền thống, vốn khai thác tương đối dễ và rẻ. Đây là lý do chính khiến Venezuela, không giống nhiều quốc gia có nguồn dầu mỏ khổng lồ khác, không hẳn là giàu có.

Lý do kinh tế

Sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghiệp dầu mỏ khiến Venezuela rơi vào lời nguyền của tài nguyên. Cho đến những năm 1920, họ là một trong những nước sản xuất nông nghiệp quan trọng nhất châu Mỹ: Nông nghiệp chiếm 1/3 GDP. 

Nhưng đến những năm 1950, ngành này chỉ còn chiếm 1/10. Venezuela thậm chí bắt đầu nhập khẩu cam và chuối từ nước láng giềng Colombia. Sản lượng dầu mỏ tăng đột ngột cản trở hoạt động tạo ra và duy trì các ngành nghề khác. 

Chính phủ thiếu chú ý đến nhiều vấn đề xã hội nghiêm trọng, gồm giáo dục, chăm sóc sức khỏe, cơ sở hạ tầng, nông nghiệp và công nghiệp, khiến Venezuela bắt đầu tụt hậu.

Nhưng trong giai đoạn đầu, vẫn còn rất nhiều dầu mỏ, và sản lượng rất cao. Đến năm 1940, Venezuela là nhà sản xuất dầu thô lớn thứ ba thế giới, với hơn 27 triệu tấn mỗi năm, chỉ ít hơn một chút so với Liên Xô. 

Tuy nhiên, dầu mỏ lúc đó là ngành chủ yếu nằm trong tay người nước ngoài, theo các thỏa thuận nhượng quyền. Năm 1943, Tổng thống Isaias Medina Angarita mới ban hành luật quy định 50% lợi nhuận phải được giữ lại trong nước.

Lợi dụng tình trạng thiếu dầu do Thế chiến II, Venezuela đã tăng sản lượng lên 42% trong giai đoạn 1943-1944. Sau chiến tranh, nhu cầu dầu vẫn tiếp tục tăng vì nhiều lý do (ví dụ, giai đoạn 1945-1950, số lượng ô tô ở Hoa Kỳ tăng từ 26 triệu lên 40 triệu chiếc). Nhưng tiền thu được từ dầu đã không được đầu tư vào phát triển đất nước.

Venezuela: Thành tại dầu mỏ, bại tại dầu mỏ - Ảnh 2.

Ảnh: Reuters

Vòng xoáy chính trị

Tháng 8-1971, dưới thời tổng thống Rafael Caldera, luật quốc hữu hóa ngành công nghiệp khí đốt được thông qua, kèm đạo luật bồi thường quy định tất cả tài sản, cơ sở vật chất và thiết bị thuộc về các công ty nước ngoài được nhượng quyền sẽ phải trả lại cho quốc gia mà không cần bồi thường khi hết hạn nhượng quyền.

Luật này bắt đầu dẫn đến sự suy giảm của ngành công nghiệp dầu mỏ trong nước, khi các công ty nước ngoài không còn muốn tăng sản lượng. Năm 1958 có tới 589 giếng được khoan, nhưng đến 1973 chỉ có 148 giếng.

1973 cũng là năm cuộc khủng hoảng dầu mỏ nổ ra. Các nước vùng Vịnh ngừng cung cấp dầu cho Hoa Kỳ. Trong giai đoạn này, doanh thu của chính phủ Venezuela tăng gấp 4 lần. Các nhà lãnh đạo đất nước thường xuyên hứa sẽ sử dụng tiền đó để tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập và đa dạng hóa nền kinh tế. 

Nhưng trên thực tế chẳng có gì thay đổi. Sản lượng dầu tiếp tục tăng, trong khi tỉ trọng các ngành công nghiệp khác và nông nghiệp giảm, dân chúng vẫn khốn khó.

Quá trình quốc hữu hóa tiến thêm một bước vào năm 1976 khi công ty dầu khí nhà nước Petróleos de Venezuela (PDV) ra đời. Tất cả các công ty dầu khí nước ngoài từng hoạt động tại Venezuela đều được thay thế bằng công ty Venezuela. 

Mỗi công ty được cấp phép khai thác trước đây đơn giản được thay thế bằng một công ty dầu khí nhà nước, vẫn giữ nguyên cấu trúc và chức năng.

Giữa những năm 1980, thị trường xuất hiện tình trạng dư thừa dầu mỏ. Giá dầu bắt đầu giảm mạnh, đầu tư vào ngành này ở Venezuela cũng giảm theo, và sản lượng giảm đáng kể. Sản xuất chủ yếu bằng phương pháp khai thác "quảng canh", năng suất các mỏ cũ đã giảm, và dự án mới đòi hỏi chi phí lớn hơn nhiều. 

Thay đổi ngành này đòi hỏi phải phát triển một nền tảng giáo dục, công nghiệp và khoa học, nhưng chính quyền chỉ đơn giản là cầm tiền dầu mỏ đi mua mọi thứ, kể cả mua chuối! Một vòng xoáy đi xuống đã hình thành.

13 năm không thoát khó

Sau cuộc khủng hoảng năm 1998, giá dầu bắt đầu tăng. Hugo Chávez lên nắm quyền năm 1999. Là nhà dân túy truyền thống của Mỹ Latin, ông quốc hữu hóa nhiều lĩnh vực của nền kinh tế, đóng băng giá cả. 

Năm 2003, ông quyết định đặt giá trần nhà nước với 45 mặt hàng thiết yếu (gạo, bánh mì, mì ống, trứng, pho mát, sữa, đường…) và 7 dịch vụ (điện, nước, tang lễ, chăm sóc y tế, giao thông công cộng...). 

Các trung tâm y tế cho người nghèo được xây dựng, các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội được mở rộng, và các chương trình xã hội để chống đói nghèo được thực hiện. Dù không phải tất cả thử nghiệm này đều có thể coi là thành công, nhìn chung, mức sống bắt đầu được cải thiện.

Năm 2013, Chávez qua đời, Nicolas Maduro lên nắm quyền và vẫn tuân thủ đường lối của người tiền nhiệm: chống Mỹ, dựa vào quân đội để điều hành đất nước, nhà nước kiểm soát nền kinh tế, đặc biệt là doanh thu dầu mỏ, và các chương trình xã hội nhằm đảm bảo lòng trung thành của đông đảo người nghèo. 

Tuy nhiên không giống người tiền nhiệm, Maduro thiếu sức hút chính trị. Mỗi cuộc bầu cử tổng thống đều là một thử thách khó khăn với ông.

Trong 13 năm cầm quyền, ông phải đối mặt với khoản nợ công và thâm hụt ngân sách đáng kể. Năm 2014, giá dầu bắt đầu giảm mạnh, dẫn đến nhiều vấn đề, như giá lương thực tăng cao. 

Tháng 12-2015, sau cuộc bầu cử Quốc hội, phe đối lập giành được đa số ghế. Xung đột nghiêm trọng, kéo dài giữa các thể chế quyền lực khác nhau bắt đầu nổ ra, ảnh hưởng nặng nề nhất đến người dân bình thường.

Năm 2017, các lệnh trừng phạt đầu tiên của Mỹ có hiệu lực, cùng chi tiêu chính phủ cao đã đẩy nhanh lạm phát: từ 40% năm 2013 lên 63.370% (sáu mươi ba ngàn ba trăm bảy mươi phần trăm), theo IMF. 

Sản lượng dầu cũng liên tục giảm, đến năm 2020, chỉ còn bằng 1/4 năm 2013. GDP tương ứng giảm 4 lần trong cùng kỳ, từ 139 tỉ xuống còn 35 tỉ đô la. Chính quyền Caracas chỉ đạt được sự ổn định tương đối sau năm 2021 bằng cách đô la hóa một phần nền kinh tế, cắt giảm chi tiêu chính phủ và thâm nhập các thị trường mới, như Trung Quốc.

Hậu quả xã hội,theo ước tính của "Đài quan sát Tài chính" (Observatorio de finanzas) Venezuela, 86% hộ gia đình nước này sống dưới mức nghèo khổ vào năm 2024. Các cơ sở y tế thiếu thiết bị và thuốc men nghiêm trọng. Tuổi thọ trung bình giảm 1,5 tuổi trong giai đoạn 2011-2021.

Tất cả những điều này làm gia tăng sự bất mãn của người dân. Tương tự là làn sóng di cư khỏi Venezuela, với gần 8 triệu người ra đi trong thời kỳ Maduro cầm quyền. Theo các cuộc thăm dò tháng 3-2025, 44,6% số người còn ở lại cũng dự định sẽ ra đi nếu có cơ hội.■

Năm 2018, siêu lạm phát trở nên không thể tưởng tượng nổi: Để mua một cuộn giấy vệ sinh, người Venezuela phải chi 2,6 triệu bolivar, có nghĩa là giấy vệ sinh đắt hơn tiền mặt nếu tính theo khối lượng. Hiện GDP bình quân đầu người của Venezuela xếp thứ 140 trên thế giới, vào khoảng 3.000 đô la.

Bình luận Xem thêm
Bình luận (0)
Xem thêm bình luận