Đi tìm một bảo tàng hàng hải Việt Nam

ĐỖ THÁI BÌNH 24/1/2015 14:01 GMT+7

Một câu hỏi rất cũ mà đến nay vẫn chưa có câu trả lời: Vì sao một “quốc gia biển” như Việt Nam với một lịch sử đi biển đáng nể lại chưa có một bảo tàng hàng hải đúng nghĩa? 

Tàu đánh cá voi Charles W. Morgan nổi tiếng từ thế kỷ 19 trong lễ ra mắt tại Bảo tàng Mystic Seaport - Mystic Seaport

Ken Preston, người kế tục John Doney - một người mê thuyền Việt từng khởi xướng lập một “Quỹ Di sản thuyền bè Việt Nam”, vừa trở lại Việt Nam với vốn 500 từ tiếng Việt và mong mỏi trả lời được câu hỏi này.

Không chỉ giới nghiên cứu trong nước như tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn từ Đà Nẵng hay các nhà dân tộc học như Đặng Nghiêm Vạn, Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Duy Thiệu..., nhiều nhà dân tộc học nước ngoài đã nêu ra vấn đề này, trong đó đáng chú ý nhất là hai người Mỹ “mê thuyền Việt” - chữ mà báo Tuổi Trẻ từng dùng trong một bài viết về những người bạn này trên số báo 1-10-2005.

Trong một bức thư gần đây, Ken Preston viết: “Tôi nghĩ đã tới lúc phải có một bảo tàng hàng hải quốc gia của Việt Nam, có thể giống như Bảo tàng Mystic Seaport (bang Connecticut, Mỹ - bảo tàng hàng hải lớn nhất thế giới) nhưng toàn bộ chỉ nói về lịch sử hàng hải Việt Nam.

Tôi hình dung ra trên mặt nước sẽ trưng bày sống động các thuyền buồm và thuyền chèo đủ mọi cỡ loại, có một xưởng đóng thuyền theo kiểu truyền thống đang hoạt động... Tất cả để cho người Việt Nam có thể tự hào về nó và những người nước ngoài có thể học tập từ đó”.

Mô hình nào cho một bảo tàng hàng hải?

Mặc dù chưa có một bảo tàng hàng hải hoàn chỉnh nhưng rải rác trên khắp đất nước ta có những bảo tàng với “yếu tố hàng hải” như Bảo tàng Hải quân Hải Phòng, Bảo tàng Sinh vật biển của Viện Hải dương học Nha Trang, bảo tàng của các lãnh tụ có cuộc đời hoạt động gắn với tàu thuyền như Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Tôn Đức Thắng;

Kho đồ cổ từ các cuộc khai quật dưới nước của Bảo tàng Lịch sử, Bảo tàng Cù Lao Chàm, Bảo tàng Quang Trung (huyện Tây Sơn, Bình Định), Bảo tàng trận Rạch Gầm - Xoài Mút (Mỹ Tho), bảo tàng tư nhân “Cội nguồn” tại Phú Quốc, nhà trưng bày tại Hội An...

Trên thế giới hiện có khoảng vài nghìn bảo tàng hàng hải và người ta vẫn tiếp tục xây mới các bảo tàng chuyên đề này.

Tại Trung Quốc, ngoài bảo tàng thuyền nổi tiếng tại Tuyền Châu, một hệ thống các bảo tàng chuyên đề về Trịnh Hòa, bảo tàng hải quân Thanh Đảo, bảo tàng trên hai mẫu hạm to lớn mua lại của Nga tại Thiên Tân và Thâm Quyến, người ta vừa hoàn chỉnh Bảo tàng hàng hải quốc gia khổng lồ tại Thượng Hải, trong khi Thiên Tân lại đang có dự án bảo tàng hàng hải lớn hơn nhằm cổ vũ “tinh thần biển” cho một nước Trung Hoa đang bành trướng trên đại dương!

Về mặt tổ chức, các bảo tàng hết sức đa dạng. Có thể đó là nơi lưu trữ bản gốc các di vật hàng hải, bản vẽ, hải đồ, các chi tiết của con tàu, những cuốn sách cổ... như Bảo tàng Greenwich London dẫn đầu với trên 2 triệu hiện vật. Có bảo tàng lấy trung tâm là một hay nhiều con tàu cổ đi kèm theo nơi lưu trữ các di vật hàng hải.

Nhưng phổ biến nhất hiện nay là những bảo tàng “sống” giúp khách tham quan sống thật với môi trường hàng hải lịch sử, với những chiếc thuyền buồm cổ xưa được “tương tác” qua các thiết bị công nghệ số hay các vật thật để trải nghiệm bão tố, đọc các tấm hải đồ, cùng say sóng với con tàu... bên cạnh việc xem các hiện vật, nghe lời thuyết minh.

Bảo tàng Mystic bên bờ Đại Tây Dương mà Ken nêu ra là ví dụ cho một bảo tàng “sống” như vậy, với các con tàu cột buồm cao vút thuộc nhiều thời đại dẫn dắt khách tham quan trở về “kỷ nguyên vàng của buồm” khi các cánh buồm no gió tung bay khắp các đại dương.

Giản dị hơn Mystic là bảo tàng hàng hải của San Francisco dựa trên nền tảng của một cảng cá xưa cũ nay không còn sử dụng. Tòa nhà lớn dùng để lưu trữ các hiện vật giống như mọi bảo tàng hàng hải khác. Dọc đường ra cầu tàu là một loạt hàng quán bán lưu niệm, nhà hàng mang phong cách biển, trang trí bằng những lá cờ đen của hải tặc, những minh họa từ “Đảo giấu vàng” theo tiểu thuyết của nhà văn Stevenson hay “Robinson” một mình trên hoang đảo.

Gần bến tàu là một xưởng đóng thuyền hoàn toàn theo phong cách cổ xưa với các cách ghép gỗ, bào mộng thủ công. Bên cạnh các cọc buộc thuyền là những cột thi đố buộc các nút dây quen thuộc dùng trong hàng hải như nút dẹt, nút thuyền chài... Những con thuyền đón du khách là các loại thuyền lịch sử quen thuộc với người dân ven bờ Thái Bình Dương để đánh bắt cá tới tận Alaska, hay đưa các di dân tới vùng Tây nước Mỹ này trong các cơn sốt đào vàng vào cuối những năm 1940.

Mong mỏi của Ken về một bảo tàng hàng hải đã dẫn tới một... hội thảo mini tại Hội An vào trung tuần tháng chạp vừa rồi. Biết tin Ken đang rong ruổi xe máy từ Trà Cổ tiến dần về miền Trung, những người mê thuyền buồm từ Sài Gòn kéo ra Hội An đón Ken.

Cuộc gặp mặt có dân ghe thuyền Hội An, những người chơi thuyền từ Đà Nẵng, Trung tâm Bảo tồn di sản và cả giảng viên, sinh viên khoa đóng tàu của Đại học Đà Nẵng. Vượt chặng đường từ Huế vào bằng chiếc xe máy cà tàng, Ken kể anh vừa trọ tại nhà một cựu chiến binh năm 1971 đã chiến đấu tại vùng Biên Hòa, đó cũng là năm Ken được đưa tới Biên Hòa và ở tại đó hai năm. Anh hiện sống tại đảo Bainbridge, cách trung tâm Seattle (Mỹ) một chuyến tàu phà kéo dài hơn một giờ.

Hơn 10 năm nay, Ken thường xuyên đi du lịch Việt Nam và hai nước láng giềng, mọi việc được ghi chép trên blog “Thuyền và cơm”(boatsandrice) và những cuốn sách ảnh tỉ mỉ về các con thuyền dọc theo bờ biển Việt Nam.

Đến nay, người nước ngoài tìm hiểu văn hóa và sinh sống trên đất nước ta đã là chuyện bình thường, nhưng gần 20 năm trước, một kẻ “lạ mặt”, râu ria xồm xoàm phóng xe máy tới các làng chài giương máy ảnh, nhảy lên chèo thuyền thúng là một hành động “đáng ngờ” với nhiều con mắt cảnh giác.

Nhưng Ken đã thuyết phục được những người khó tính nhất để củng cố vốn hiểu biết của anh về thuyền Việt Nam. Anh là người biên tập bản tiếng Anh của cuốn sách Thuyền buồm ở Đông Dương - một cuốn sách kinh điển về tàu thuyền Việt Nam do một ông chánh kiểm ngư người Pháp tên là J.B.Pietri, xuất thân từ một hoa tiêu trên sông Sài Gòn, xuất bản vào năm 1943 (1).

Công việc của Ken tiếp nối người đi trước, ông John Doney - người khởi xướng lập một “Quỹ Di sản thuyền bè Việt Nam”. John Doney đã mất vào năm 2009 do một tai nạn xe hơi nhưng những hiện vật ông đem về từ Việt Nam như những chiếc thúng chài, chiếc “nốc” (3) Huế được “khâu” từ năm tấm ván vẫn được lưu giữ tại một trung tâm ở cảng Townsend, phía tây bắc Seattle.

Dựng buồm trên chiếc mảng Sầm Sơn để thực hiện chuyến viễn du 5.500 dặm vượt Thái Bình Dương sang Mỹ năm 1993 (2).Giúp nhà du lịch Tim Severin chỉ huy công việc này là Nick Burningham (râu quai nón, đứng dưới cột buồm), một chuyên gia về tàu thuyền cổ đến từ Úc. Sau chuyến làm mảng Sầm Sơn, Nick làm cố vấn cho Bảo tàng thuyền Tuyền Châu, Trung Quốc

Những bước đi thực tế?

Đề xuất xây dựng mới một bảo tàng chắc sẽ gặp nhiều ý kiến lo ngại. Chẳng phải chúng ta đã có Bảo tàng Hà Nội khổng lồ mà chẳng biết bày cái gì hay hệ thống bảo tàng của chúng ta hiện nay công suất sử dụng rất thấp, trừ một vài bảo tàng đã mạnh dạn đổi mới như Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Phụ nữ Hà Nội...

Dẫu hiểu rằng ta cần làm cho toàn xã hội thấy sự cần thiết phải có bảo tàng hàng hải nhằm nâng cao “tinh thần biển” của toàn dân tộc nhưng cũng cần có những bước đi hết sức thiết thực.

Trước hết, các bảo tàng có gắn với hàng hải, các cơ quan, công ty hàng hải cần cố gắng lưu giữ những gì còn lại như Bảo tàng Hải quân giữ con tàu không số nguyên vẹn hay những mảnh còn đắm chìm tại Cà Mau, Vũng Rô, Bảo tàng Lịch sử với con tàu tăng-kích 174 còn nằm gửi tại Ninh Bình...

Tiếc là khi tìm hiểu về các chuyến tàu Bắc Nam ngày thống nhất, chúng tôi hỏi đại phó Nguyễn Bá Trí đã về hưu tại Thanh Hóa nhưng anh cũng không biết công ty đã bỏ đi cuốn nhật ký của tàu Thống Nhất lúc nào.

Việc nghiên cứu lịch sử hàng hải dân tộc hiện nay có thể nói chưa đáng là bao. Nếu chỉ một đường thêu của chiếc váy Mường đã là đề tài cho nhà dân tộc học Nguyễn Đổng Chi theo đuổi trong nhiều năm thì biết bao chi tiết hàng hải từ con mắt thuyền, chiếc “ngà”, chiếc “mõ”, bao nhiêu loại thuyền... xứng đáng để chúng ta ghi chép, nghiên cứu, đối chiếu với các dân tộc khác, tạo nên một đội ngũ các nhà dân tộc học hàng hải thời hiện đại.

Giảng viên Nguyễn Tiến Thừa từ Đại học Đà Nẵng có một đề xuất mà tôi nghĩ khá hay: “Trong khi chúng ta chưa thể đóng lại các con thuyền cổ xưa thì việc vẽ lại theo lời kể, theo một số vật mẫu còn sót lại, theo một số con thuyền còn đang dùng bằng các công cụ thiết kế tàu với các bản vẽ tuyến hình, kết cấu..., bằng các phần mềm hiện đại để tạo ra một thư viện “ảo” là hết sức cần thiết để chúng ta có thể chế tạo lại khi có điều kiện”.

Nhóm thầy trò này đã bắt tay vào một việc đầu tiên: vẽ lại chiếc ghe nang trước khi chiếc ghe này được đưa về Bảo tàng Cù Lao Chàm.

-----------------------------------------------------------------

(1): Cuốn sách Voiliers d’Indochine do J.B Pietri vẽ và viết, Nhà xuất bản SILI tại Sài Gòn ấn hành năm 1943 và 1949. Bản tiếng Việt do Đỗ Thái Bình thực hiện từ bản tiếng Pháp và tiếng Anh, Nhà xuất bản Trẻ ấn hành dự kiến ra mắt tháng 3-2015.

(2): Xem Bè tre Việt Nam du ký vượt 5.500 dặm Thái Bình Dương bản dịch tiếng Việt của Đỗ Thái Bình và Vũ Diệu Linh từ cuốn du ký của Tim Severin, Nhà xuất bản Trẻ ấn hành 2014.

(3): Một loại thuyền nhỏ.

Bình luận
    Viết bình luận...